Khối thi và môn thi Đại học, Cao đẳng 2012

 27/02/2012     264 lượt xem  

PHẦN I:

 

NHỮNG ĐIỂM CẦN LƯU Ý TRONG TUYỂN SINH 2012

 

 

I. KHỐI THI VÀ MÔN THI ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG

 

Khối A

Toán, Lý, Hóa

Khối B

Sinh, Toán, Hóa

Khối C

Văn, Sử, Địa

Khối A1

Toán, Lý, Anh

Khối D1

Văn, Toán, tiếng Anh

Khối D2

Văn, Toán, tiếng Nga

Khối D3

Văn, Toán, tiếng Pháp

Khối D4

Văn, Toán, tiếng Trung

Khối D5

Văn, Toán, tiếng Đức

Khối D6

Văn, Toán, tiếng Nhật

Khối V

Toán, Lý (đề thi khối A), Vẽ mỹ thuật

Khối T

Sinh, Toán (đề thi khối B), Năng khiếu TDTT

Khối M

Văn, Toán (đề thi khối D), Năng khiếu

Khối N

Văn (đề thi khối C), 2 môn năng khiếu Nhạc

Khối H

Văn (đề thi khối C), Năng khiếu - Mỹ thuật

Khối R

Văn, Sử (đề thi khối C), Năng khiếu báo chí

Khối S

Văn (đề thi khối C), 2 môn năng khiếu Điện ảnh

Khối K

Toán, Lý, môn kỹ thuật nghề

Nội dung thi các môn năng khiếu:

- Năng khiếu TDTT (khối T) là: Chạy cự ly ngắn, bật tại chỗ, gập thân (năng khiếu TDTT nhân hệ số 2). Yêu cầu vào ngành TDTT: nam cao 1,65m, nặng 45kg; nữ cao 1,55m, nặng 40kg trở lên. Các trường tổ chức thi năng khiếu TDTT theo hướng dẫn tại công văn số 51/85/BGD&ĐT-ĐH&SĐH ngày 22/6/2005

- Năng khiếu Mầm non (khối M) là: hát, kể chuyện, đọc diễn cảm (năng khiếu hệ số 1)

- Năng khiếu Nhạc (khối N) là: thẩm âm, tiết tấu, thanh nhạc (năng khiếu nhân hệ số 2)

- Năng khiếu Họa (khối H) là: hình họa chì, vẽ trang trí mầu (năng khiếu nhân hệ số 2)

II. NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG KỲ THI TUYỂN SINH NĂM 2012

Bộ GD&ĐT vừa chính thức công bố dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2012. Theo đó, trong năm 2012 vẫn thi ba chung, trong 3 đợt và đề thi vẫn sẽ bám sát chương trình lớp 12.

            1. Không bắt buộc thi theo khối mới:

            Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phạm Vũ Luận đã chính thức công bố việc bổ sung một số khối thi ĐH, CĐ trong kỳ tuyển sinh tới bên cạnh 4 khối thi truyền thống, đồng thời sẽ trưng cầu ý kiến về phương án thi tuyển sinh theo 6 môn và không phân biệt theo các khối A, B, C… Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga cũng khẳng định, từ nay đến năm 2015, cần thay đổi số môn thi và khối thi ĐH, CĐ. Theo đó, cần thi nhiều môn (thay vì chỉ 3 môn như hiện nay) và dù là ngành nào cũng bắt buộc phải có một môn khoa học xã hội.

            Về cơ bản, vẫn giữ ổn định theo giải pháp “3 chung”. Tuy nhiên, kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ hệ chính quy năm 2012 sẽ có một số điều chỉnh. Cụ thể, Bộ GD-ĐT nghiên cứu bổ sung một số khối thi để đáp ứng tốt hơn yêu cầu kiểm tra năng lực đầu vào của các ngành đào tạo, tạo sự linh hoạt trong xét tuyển của các trường và tăng cơ hội đăng ký dự thi của thí sinh.

            Theo GS Văn Như Cương, kỳ thi “3 chung” đã đến lúc cần thay đổi, nhưng phải lấy ý kiến rộng rãi, đề ra kế hoạch và thời gian thực hiện cụ thể. ý tưởng thay đổi khối thi ĐH, CĐ là đúng nhưng thay đổi kiểu gì thì cần làm rõ hơn để điều chỉnh trong dạy và học nhằm đáp ứng tình hình mới. Nếu đổi mới luôn trong năm 2012, nên giữ khối thi cũ và mở thêm khối thi mới để các trường và học sinh kịp thay đổi, tránh tình trạng cập rập.

            Một số trường đại học cho rằng, có thêm nhiều khối thi sẽ tạo thêm thuận lợi cho thí sinh nhưng các trường sẽ vất vả hơn trong công tác tổ chức thi. Vấn đề đặt ra là, mở rộng khối thi thì trường có tuyển thêm được sinh viên hay không? Trước những lo lắng, băn khoăn về việc thay đổi khối thi có thể ảnh hưởng đến kết quả của thí sinh, lãnh đạo Bộ GD-ĐT cho biết, việc tiến hành thi theo khối thi mới là không bắt buộc.

            Thí sinh vẫn có thể thi theo khối thi truyền thống nhưng đồng thời có thêm cơ hội đăng ký thi theo khối thi mới. Cụ thể, sau khi việc mở rộng khối thi được quyết định, Bộ sẽ yêu cầu các trường thông báo công khai yêu cầu tuyển sinh, bao gồm ngành đào tạo, khối thi, chỉ tiêu. Theo đó, có thể cùng một ngành, tuyển sinh cả khối thi truyền thống và khối thi mới. Bộ GD-ĐT cũng khẳng định, đây không phải là thay đổi hẳn hình thức thi mà vẫn tiến hành thi “3 chung”. Việc thay đổi các môn thi bắt buộc sẽ chỉ được áp dụng sau 3 năm kể từ khi thông báo để không ảnh hưởng đến quyền lợi của thí sinh.

            2. Bổ sung khối thi A1 (Toán, Lý, tiếng Anh):

            Kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ hệ chính quy năm 2012 vẫn tổ chứ thi theo các khối thi truyền thống A, B, C, D, các khối năng khiếu và bổ sung thêm khối A1 (Toán, lý, Tiếng Anh).

            Để bảo đảm sự ổn định ở các trường tuyển sinh theo khối thi truyền thống và không ảnh hưởng đến việc học tập, định hướng ôn tập của HS trong 3 năm học THPT (theo ban và theo khối), Bộ yêu cầu các trường vẫn tuyển sinh theo các khối thi của từng ngành đào tạo như những năm trước và có thể bổ sung khối A1 nếu thấy cần thiết và phù hợp đối với từng ngành đào tạo.

            *  Năm nay, Bộ GD-ĐT cho phép các trường tuyển sinh thêm khối A1 (toán, lý, tiếng Anh). Trên thực tế, nhiều trường có cách triển khai khác nhau, cụ thể: 

            Trường ĐH Bách khoa TP.HCM: Tiến sĩ Nguyễn Thanh Nam, Trưởng phòng Đào tạo, cho biết chỉ xác định một điểm tuyển chung cho cả hai khối thi A và A1 theo từng ngành và nhóm ngành. Riêng với thí sinh dự thi khối V (toán, lý, vẽ) vào ngành kiến trúc của trường sẽ có cơ hội đăng ký tham gia thi thêm môn Anh văn, tức dự thi khối A1 để xét tuyển vào các ngành khác của trường.

            Trường ĐH Khoa học tự nhiên TP.HCM: Tiến sĩ Nguyễn Kim Quang, Trưởng phòng Đào tạo, cho hay: “Trường chỉ tuyển bổ sung khối thi A1 cho 3 ngành đào tạo bậc ĐH gồm: nhóm ngành công nghệ thông tin, toán học, kỹ thuật điện tử truyền thông và bậc CĐ ngành công nghệ thông tin. Tuy nhiên, hội đồng tuyển sinh trường sẽ quyết định điểm trúng tuyển của từng khối thi A và A1. Riêng bậc CĐ ngành công nghệ thông tin, những năm qua số lượng thí sinh đăng ký ít hơn chỉ tiêu nên điểm trúng tuyển nguyện vọng 1 của bậc này chỉ bằng điểm sàn CĐ”.

            Trường ĐH Kinh tế - Luật TP.HCM: Thạc sĩ Lâm Tường Thoại, Trưởng phòng Đào tạo và quản lý sinh viên, chia sẻ: “Chỉ tiêu và điểm trúng tuyển của hai khối A và A1 sẽ được xác định sau khi có kết quả thi tuyển sinh”.

            Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM: Bổ sung khối A1 vào các ngành có thi khối A nhưng trừ 3 ngành: công nghệ kỹ thuật môi trường, công nghệ thực phẩm và kinh tế gia đình. Tiến sĩ Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng phòng Đào tạo, giải thích: “Ba ngành trên không bổ sung khối A1 mà chỉ thi khối A và B bởi đặc thù các ngành học này thi môn hóa là cần thiết”. Tiến sĩ Dũng cũng cho biết trường sẽ xác định chung chỉ tiêu và điểm trúng tuyển nguyện vọng 1 cho khối A và A1, sẽ xét tuyển các thí sinh dự thi khối A1 không đủ điểm vào ĐH xuống bậc CĐ của trường.

            Trường ĐH Kinh tế TP.HCM: Thạc sĩ Nguyễn Văn Đương, Phó trưởng phòng Đào tạo, nói: “Trường xét điểm trúng tuyển chung cho thí sinh dự thi khối A và A1”.

            Trường ĐH Công nghiệp thực phẩm TP.HCM: Trường tổ chức thi khối A ở nguyện vọng 1 và chỉ bổ sung thêm khối thi A1 nếu có xét tuyển nguyện vọng 2.

            Trường ĐH Xây dựng: Chỉ tuyển sinh khối A1 ngành công nghệ thông tin gồm 2 chuyên ngành: công nghệ phần mềm, hệ thống và mạng máy tính.

            Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật Hưng Yên: Dự kiến tuyển sinh khối A1 và khối B cho các ngành kỹ thuật, kinh tế. Trường xét tuyển dựa trên kết quả kỳ thi tuyển sinh ĐH năm 2012 của những thí sinh khối A, A1, B, D1 có đăng ký nguyện vọng học tại trường.

            Trường ĐH Ngoại thương: Tuyển sinh thêm khối A1. Cụ thể ngành và khối thi như sau: ngành kinh tế: A, A1, D1, 2, 3, 4, 6; ngành kinh tế quốc tế: A, A1, D1;  ngành kinh doanh quốc tế: A, A1, D1; ngành quản trị kinh doanh: A, A1, D1; ngành tài chính - ngân hàng: A, A1, D1; ngành ngôn ngữ Anh: D1; ngành ngôn ngữ Pháp: D3;  ngành ngôn ngữ Trung: D1, 4;  ngành ngôn ngữ Nhật: D1, 6;  ngành luật: A, A1, D1;   Các ngành đào tạo cao đẳng: ngành quản trị kinh doanh: A, A1, D1, 2, 3, 4, 6.

3. Ba chung:

Bộ GD&ĐT cho biết, tuyển sinh năm 2012 sẽ vẫn tổ chức biên soạn đề thi tuyển sinh dùng chung cho các trường. Giám đốc các ĐH, học viện, hiệu trưởng các trường ĐH và trường CĐ sử dụng đề thi chung của Bộ GD-ĐT chịu trách nhiệm tổ chức sao in, đóng gói đề thi (nếu được Bộ GD&ĐT giao nhiệm vụ), bảo quản, phân phối, sử dụng đề thi; tổ chức kỳ thi; chấm thi và phúc khảo; xét tuyển và triệu tập thí sinh trúng tuyển.

Đối với trường tuyển sinh ngành năng khiếu, các môn văn hóa thi theo đề thi chung của Bộ GD&ĐT; các môn năng khiếu thi theo đề riêng của trường. Hiệu trưởng các trường tuyển sinh ngành năng khiếu chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các khâu: ra đề thi, tổ chức thi, chấm thi; xét tuyển và triệu tập thí sinh trúng tuyển. 

Những trường không tổ chức thi tuyển sinh được sử dụng kết quả thi tuyển sinh theo đề thi chung của thí sinh cùng khối thi, trong vùng tuyển quy định của trường để xét tuyển. Hiệu trưởng các trường này chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện việc xét tuyển và triệu tập thí sinh trúng tuyển.

Các trường ĐH có chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo CĐ không tổ chức kỳ thi tuyển sinh riêng vào hệ này mà sử dụng kết quả thi tuyển sinh ĐH, CĐ theo đề thi chung của thí sinh cùng khối thi, trong vùng tuyển của trường để xét tuyển. 

Bộ yêu cầu các trường có trách nhiệm tự tổ chức kiểm tra, giám sát các khâu công tác tuyển sinh tại trường mình theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT.

4. Đề thi chủ yếu trong chương trình lớp 12:

Đề thi tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2012 phải đạt được các yêu cầu kiểm tra những kiến thức cơ bản, khả năng vận dụng và kỹ năng thực hành của thí sinh trong phạm vi chương trình trung học hiện hành, chủ yếu là chương trình lớp 12, phù hợp với quy định về điều chỉnh nội dung học tập cấp trung học.

Đề thi không nằm ngoài chương trình và vượt chương trình trung học. Không ra đề vào những phần đã được giảm tải, cắt bỏ, hoặc đã chuyển sang phần đọc thêm (phần chữ nhỏ, các phần đã ghi trong văn bản quy định về điều chỉnh chương trình).

Đề thi bám sát chương trình trung học (theo từng bộ môn). Có nhiều câu để kiểm tra bao quát chương trình trung học, chủ yếu là chương trình lớp 12, bảo đảm cân đối giữa các phần trong chương trình, đúng các quy định về điều chỉnh nội dung môn học. 

 

            5. Đợt thi và lịch thi tuyển sinh:

            5.1. Đợt thi tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2012:

            a) Đợt I: Ngày 4 - 5/7/2012, thi đại học khối A, A1 và V.

            Thí sinh thi khối V, sau khi dự thi môn Toán, Lý, thi tiếp năng khiếu Vẽ đến hết ngày 11/7/2012.

            b) Đợt II: Ngày 9 - 10/7/2012, thi đại học khối B, C, D và các khối năng khiếu.

            Thí sinh thi khối năng khiếu, sau khi dự thi các môn văn hoá (Khối H, N thi Văn theo đề thi khối C; Khối M thi Văn, Toán theo đề thi khối D; Khối T thi Sinh, Toán theo đề thi khối B; Khối R thi Văn, Sử theo đề thi khối C), thi tiếp các môn năng khiếu đến hết ngày 16/7/2010.

            c) Đợt III: Ngày 15 - 16/7/2012, thi cao đẳng tất cả các khối thi.

            Thí sinh thi khối năng khiếu, sau khi dự thi các môn văn hóa, thi tiếp các môn năng khiếu đến ngày 21/7/2012.

            5.2. Lịch thi tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2012:

            a. Đối với hệ đại học

     Đợt I, ngày 4 - 5.7.2011 thi đại học khối A, A1 và V:

Ngày

Buổi

Môn thi

Khối A

Khối A1

Ngày 3/7/2012

Sáng từ 8g00

Làm thủ tục dự thi, xử lý những sai sót trong đăng ký dự thi của thí sinh.

Ngày 4/7/2012

Sáng

Toán

Toán

 

Chiều

Ngày 5/7/2012

Sáng

Hoá

Tiếng Anh

 

Chiều

Dự trữ

Dự trữ

     Đợt II, ngày 9 - 10/07/2012, thi đại học khối B, C, D và các khối năng khiếu:

Ngày

Buổi

Môn thi

Khối B

Khối C

Khối D

Ngày 8/7/2012

Sáng từ 8g00

Làm thủ tục dự thi, xử lý những sai sót trong đăng ký dự thi của thí sinh.

Ngày 9/7/2012

Sáng

Sinh

Ngữ văn

Ngữ văn

Chiều

Toán

Sử

Toán

Ngày 10/7/2012

Sáng

Hoá

Địa

Ngoại ngữ

Chiều

Dự trữ

            b. Đối với hệ cao đẳng.

  Các trường cao đẳng tổ chức thi trong 2 ngày 15 - 16/7/2012.

Ngày

Buổi

Môn thi

Khối A

Khối B

Khối C

Khối D

Ngày 14/7/2012

Sáng từ 8g00

Làm thủ tục dự thi, xử lý những sai sót trong đăng ký dự thi của thí sinh.

Ngày 15/7/2012

Sáng

Vật lý

Sinh

Ngữ văn

Ngữ văn

Chiều

Toán

Toán

Sử

Toán

Ngày 16/7/2012

Sáng

Hoá

Hoá

Địa

Ngoại ngữ

Chiều

Dự trữ

Dự trữ

Dự trữ

Dự trữ

            5.3. Thời gian biểu từng buổi thi tuyển sinh đại học, cao đẳng:

            a. Thời gian biểu từng buổi thi các môn tự luận.

 

Thời gian

Nhiệm vụ

Buổi sáng

Buổi chiều

6g30 - 6g45

13g30 - 13g45

Cán bộ coi thi đánh số báo danh vào chỗ ngồi của thí sinh; gọi thí sinh vào phòng thi; đối chiếu, kiểm tra ảnh, thẻ dự thi.

6g45 – 7g00

13g45 – 14g00

Một cán bộ coi thi đi nhận đề thi tại điểm thi

7g00 – 7g15

14g00 – 14g15

Bóc túi đựng đề thi và phát đề thi cho thí sinh

7g15 – 10g15

14g15 – 17g15

Thí sinh làm bài thi

10g15

17g15

Cán bộ coi thi thu bài thi

            b.  Thời gian biểu từng buổi thi các môn trắc nghiệm.

 

Thời gian

Nhiệm vụ

Buổi sáng

Buổi chiều

6g30 – 6g45

13g30 – 13g45

Cán bộ coi thi nhận túi phiếu trả lời trắc nghiệm (TLTN) và túi tài liệu; đánh số báo danh vào chỗ ngồi của thí sinh; gọi thí sinh vào phòng thi; đối chiếu, kiểm tra ảnh, thẻ dự thi.

6g45 – 7g00

 

13g45 – 14g00

Một cán bộ coi thi đi nhận đề thi tại điểm thi; một cán bộ coi thi phát phiếu TLTN và hướng dẫn các thí sinh điền vào các mục từ 1 đến 9 trên phiếu TLTN.

7g00 – 7g15

14g00 – 14g15

Kiểm tra niêm phong túi đề thi; mở túi đề thi và phát đề thi cho thí sinh; sau khi phát đề xong, cho thí sinh kiểm tra đề và ghi mã đề thi vào phiếu TLTN.

7g15

14g15

Bắt đầu giờ làm bài (90 phút)

7g30

14g30

Thu đề thi và phiếu TLTN còn dư tại phòng thi giao cho thư ký điểm thi.

8g30

15g30

Cán bộ coi thi nhắc thí sinh còn 15 phút làm bài.

8g45

15g45

Hết giờ làm bài thi trắc nghiệm, thu và bàn giao phiếu TLTN.

            5.4. Thời gian làm bài của mỗi môn thi tuyển sinh:

            - Các môn thi tự luận: 180 phút.

            - Các môn thi theo phương pháp trắc nghiệm: 90 phút.

            6. Kỳ thi tốt nghiệp: Bỏ thi cụm:

            Ông Trần Văn Nghĩa, Phó cục trưởng Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục cho biết: Bộ GD-ĐT sẽ đưa ra các giải pháp cụ thể để tiến đến việc tổ chức kì thi tốt nghiệp THPT gọn nhẹ nhưng đảm bảo an toàn và nghiêm túc.

            Trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2011-2012, Bộ GD-ĐT tiếp tục thực hiện phân cấp, giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho giám đốc các Sở GD-ĐT trong khâu tổ chức thi. Giao cho Giám đốc Sở GD-ĐT đưa ra cách thức tổ chức thi phù hợp với địa phương của mình. Bên cạnh đó, Sở cũng được phép chủ động tổ chức chấm thi, nhưng phải đảm bảo yêu cầu chấm chéo bài thi tự luận giữa các khu vực của tỉnh. Như vậy, với kỳ thi tốt nghiệp THPT năm học 2011-2012, hình thức thi cụm, chấm theo liên tỉnh sẽ bị xóa, chỉ còn thu hẹp lại trong từng địa phương.

            Theo Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga, các chủ trương mới sẽ được trưng cầu ý kiến rộng rãi và sau hội nghị tuyển sinh, mọi thay đổi mới được chính thức quyết định./.

            7. Tuyển thẳng học sinh giỏi quốc gia:

            Tuyển thẳng học sinh đoạt giải nhất, nhì, ba kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia trung học phổ thông năm 2012 vào đại học và giải khuyến khích vào cao đẳng các ngành đúng hoặc ngành gần theo môn học sinh đoạt giải.

            Học sinh không sử dụng quyền tuyển thẳng hoặc không đăng ký vào học đúng ngành hoặc ngành gần theo môn học sinh đoạt giải, nếu dự thi đại học, cao đẳng đủ số môn quy định theo đề thi chung, kết quả thi đạt từ điểm sàn cao đẳng trở lên, không có môn nào bị điểm 0, hiệu trưởng các trường xem xét, quyết định ưu tiên xét tuyển.

 

8. Cách làm tròn điểm thi

Thí sinh lưu ý, không có quy định làm tròn ở từng môn thi mà chỉ có quy định làm tròn tổng của cả 3 môn thi theo nguyên tắc lẻ 0,25 được làm tròn lên 0,5; lẻ 0,75 được làm tròn lên 1.

Các bài thi tự luận do chấm chi tiết đến 0,25 nên sẽ có điểm lẻ 0,25, 0,5 và 0,75. Những điểm thi này sẽ giữ nguyên không làm tròn.

Đối với bài thi trắc nghiệm thí sẽ được chấm theo thang điểm 100 sau đó mới quy đổi sang thang điểm 10.

 

9. Các trường cao đẳng vẫn tổ chức thi riêng

Cuối năm 2010 có thông tin Bộ GDĐT dự kiến sẽ cho các trường cao đẳng tổ chức thi chung đợt với đại học, chứ không thi riêng như trước. Tuy nhiên, tới thời điểm này, một lãnh đạo Bộ GDĐT khẳng định ngoài những nội dung chỉnh sửa bổ sung quy chế tuyển sinh bộ đã đưa ra lấy ý kiến thì sẽ không có thay đổi nào khác nữa trong kỳ tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2012. Bộ sẽ vẫn tổ chức đợt thi riêng cho các trường cao đẳng như năm 2011. Hiệu trưởng các trường sẽ quyết định tổ chức thi tuyển hay xét tuyển bằng kết quả thi theo đề chung của bộ.

 

10. Lưu ý trong tuyển sinh vào các trường công an, quân đội:

Các trường khối công an, quân đội tuy tổ chức thi chung đợt, chung đề với các trường ĐH trong cả nước nhưng có những quy định riêng về hồ sơ, sơ tuyển và xét tuyển mà thí sinh cần đặc biệt lưu ý.

Một điểm chung của các trường khối công an, quân đội là khi đăng ký dự thi (ĐKDT) bắt buộc phải qua sơ tuyển, sử dụng hồ sơ ĐKDT riêng của ngành và hạn chế chỉ tiêu tuyển nữ. Tuy nhiên, trong một số trường khối quân đội và Trường ĐH Phòng cháy chữa cháy của ngành công an có chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo hệ dân sự. Thí sinh dự thi vào hệ này chỉ cần khai nộp hồ sơ theo quy định của Bộ GD-ĐT.

* Trường công an: mua hồ sơ tại nơi sơ tuyển

Bộ Công an quy định về tuổi được dự thi vào các trường của ngành như sau: học sinh THPT hoặc bổ túc THPT không quá 20 tuổi, học sinh có cha hoặc mẹ là người dân tộc thiểu số không quá 22 tuổi. Đối tượng sơ tuyển phải là học sinh đạt kết quả học tập từ trung bình trở lên, trong đó ba môn dự thi ĐH phải có kết quả lớp 12 đạt từ 6 điểm trở lên.

Thí sinh ĐKDT vào hệ ĐH ngành công an phải qua sơ tuyển theo quy định của Bộ Công an. Thí sinh ĐKDT vào các trường công an cần đặc biệt lưu ý không nộp hồ sơ theo mẫu của Bộ

GD-ĐT qua các sở GD-ĐT. Thí sinh đăng ký sơ tuyển tại ban tuyển sinh công an các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi thí sinh đăng ký hộ khẩu thường trú. Hồ sơ ĐKDT mua tại nơi sơ tuyển và nộp trực tiếp cho công an quận, huyện, thị xã. Riêng thí sinh dự thi theo chỉ tiêu đào tạo dân sự của Trường ĐH Phòng cháy chữa cháy không phải qua sơ tuyển, nộp hồ sơ theo quy định của Bộ GD-ĐT, không qua công an các đơn vị, địa phương.

Bộ Công an cho biết chỉ tuyển vào ĐH và trung cấp công an những thí sinh đạt yêu cầu sơ tuyển và đã dự thi vào một trong các học viện, trường ĐH công an. Như vậy, các trường khối công an chỉ xét tuyển nguyện vọng (NV) 1, không xét NV2. Việc xét tuyển vào hệ trung cấp theo nguyên tắc lấy điểm từ cao xuống thấp theo chỉ tiêu của công an từng đơn vị, địa phương.

Thí sinh dự thi vào trường công an nhưng không trúng tuyển, nếu đạt kết quả thi từ điểm sàn trở lên được trường cấp hai giấy chứng nhận kết quả thi để đăng ký xét tuyển NV2, NV3 vào các trường ĐH, CĐ khác theo quy định chung.

* 16 trường khối quân đội tuyển sinh:

Năm 2011, có 16 trường khối quân đội tuyển sinh ĐH, CĐ. Trong đó, chín trường có tuyển hệ dân sự với nhiều ngành đào tạo hấp dẫn, riêng Trường Sĩ quan lục quân 1 tuyển thí sinh từ Quảng Trị trở ra và Trường Sĩ quan lục quân 2 tuyển thí sinh từ Thừa Thiên – Huế trở vào. Các trường còn lại tuyển sinh cả nước.

Khi ĐKDT vào trường quân đội, thí sinh cần lưu ý những quy định khác nhau áp dụng cho hai hệ quân sự và dân sự. Đối với hệ quân sự, thí sinh bắt buộc phải qua sơ tuyển các tiêu chuẩn về chính trị, độ tuổi và sức khỏe. Khi trúng tuyển, học viên phải chấp hành sự phân công ngành học. Học viên hệ quân sự được bảo đảm về ăn ở, trang phục, phụ cấp hằng tháng, không phải đóng học phí…

Khi tốt nghiệp được nhận bằng ĐH theo mẫu văn bằng của Bộ GD-ĐT và được Bộ Quốc phòng phong quân hàm sĩ quan căn cứ theo kết quả học tập và rèn luyện. Những học viên tốt nghiệp loại xuất sắc và giỏi được ưu tiên xem xét NV khi phân công công tác. Khi ĐKDT, thí sinh phải mua hồ sơ theo mẫu riêng, sơ tuyển và nộp hồ sơ tại ban chỉ huy quân sự huyện, quận, thị xã nơi thí sinh có hộ khẩu thường trú.

Theo quy định áp dụng đối với kỳ tuyển sinh năm 2012 của các trường khối quân đội, thí sinh ĐKDT hệ quân sự cần đáp ứng các điều kiện: có lịch sử gia đình và bản thân rõ ràng, đủ điều kiện để kết nạp vào Đảng Cộng sản VN, hiện phải là đoàn viên Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, độ tuổi từ 17-21 đối với thanh niên ngoài quân đội, từ 18-23 đối với quân nhân đang tại ngũ và đã xuất ngũ, riêng thiếu sinh quân từ 17-23 tuổi (tính đến năm 2012).

Một số trường quân đội có quy định cụ thể điều kiện về sức khỏe đối với thí sinh dự thi hệ quân sự. Vì vậy trước khi ĐKDT, thí sinh cần tìm hiểu kỹ thông báo về yêu cầu sức khỏe của từng trường.

Đối với hệ dân sự, có chín trường khối quân đội tuyển sinh bao gồm năm trường tuyển sinh bậc ĐH (có tổ chức thi) và bốn trường tuyển sinh bậc CĐ (xét tuyển). Ở hệ này, thí sinh không cần phải qua sơ tuyển. Học viên phải đóng học phí và tự túc chỗ ở. Hệ dân sự không hạn chế tỉ lệ tuyển nữ. Các thí sinh ĐKDT hệ dân sự nộp hồ sơ ĐKDT tại các sở GD-ĐT theo quy định của Bộ GD-ĐT.

Các trường quân đội sử dụng đề thi chung, thi cùng đợt theo quy định của Bộ GD-ĐT. Tuy nhiên khi xét tuyển, các trường quân đội sẽ thực hiện theo quy định riêng. Các học viện, trường quân đội sẽ tuyển toàn bộ chỉ tiêu hệ quân sự theo NV1.

Điểm trúng tuyển xác định riêng cho hai khu vực phía Bắc và phía Nam. Việc xét tuyển các NV khác vào hệ quân sự của các trường trong trường hợp còn chỉ tiêu sẽ chỉ xét trong số những thí sinh dự thi vào các trường quân đội, đã qua sơ tuyển và có đủ tiêu chuẩn theo quy định.

Đối với hệ dân sự sẽ xét tuyển NV2, NV3 theo quy chế chung của Bộ GD-ĐT nếu chưa tuyển đủ chỉ tiêu. Thí sinh dự thi vào hệ quân sự của các trường quân đội nhưng không trúng tuyển NV1 được sử dụng kết quả thi để đăng ký xét tuyển NV2, NV3 vào các trường ĐH, CĐ ngoài quân đội.

 

* Tuyển 10% nữ Đối với việc tuyển nữ, Bộ Công an cho biết chỉ tuyển 10% là nữ vào các học viện, trường ĐH của ngành. Riêng Học viện An ninh nhân dân, tỉ lệ tuyển nữ các ngành như sau: an ninh điều tra 10%, tin học 15% và ngành ngoại ngữ 20%. Việc sơ tuyển nữ học sinh THPT do giám đốc công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thủ trưởng các đơn vị có chức năng sơ tuyển quyết định dựa trên nhu cầu sử dụng cán bộ nữ của đơn vị, địa phương mình.

Ban tuyển sinh quân đội cho biết chỉ có ba học viện có chỉ tiêu tuyển 10% là nữ hệ quân sự, bao gồm: ngành đào tạo bác sĩ quân y tại Học viện Quân y, ngành quan hệ quốc tế về quốc phòng và các ngành đào tạo ngoại ngữ thuộc Học viện Khoa học quân sự, kỹ sư quân sự ngành công nghệ thông tin và điện tử viễn thông của Học viện Kỹ thuật quân sự

Công bố chỉ tiêu tuyển sinh vào các trường quân đội:

            Sáng 24/2, Ban tuyển sinh (Bộ Quốc phòng) chính thức công bố chỉ tiêu vào các trường quân đội năm 2012. Cơ bản công tác tuyển sinh của các trường quân đội năm nay không có thay đổi nhiều so với năm trước.

            Năm 2012, chỉ tiêu hệ quân sự vẫn tương đối ổn định so với năm trước. Riêng hệ dân sự thì chỉ tiêu tăng mạnh. Đặc biệt năm nay ngoài thi tuyển khối C thì ĐH Chính Trị bổ sung thêm khối A, trường HV Kỹ thuật quân sự mở hệ CĐ dân sự...

            Dưới đây là thông tin chỉ tiêu vào các trường:

            Học viện Kỹ thuật Quân sự: 1.657 chỉ tiêu (CT) trong đó: Đào tạo kỹ sư cho quân đội 387 CT; Đào tạo kỹ sư hệ dân sự 850 CT, thi tuyển khối A; đào tạo cao đẳng hệ dân sự 420 CT, xét tuyển khối thi A.

            Học viện Quân y: 740 CT, trong đó: Đào tạo đại học cho quân đội - Bác sĩ Quân y 190 CT; các ngành đào tạo đại học hệ dân sự 550 CT, thi tuyển khối thi A, B.

            Học viện Khoa học Quân sự: 250 CT, trong đó: Các ngành đào tạo đại học cho quân đội 100 CT khối thi A, D1,2,3,4; các ngành đào tạo đại học hệ dân sự 150 CT, khối thi D1,2,3,4.

            Học viện Biên phòng: 650 CT, trong đó: Đào tạo đại học cho quân đội 360 CT, đào tạo đại học cho Bộ Công an 240 CT, khối thi C; đào tạo cao đẳng cho quân đội 50, xét tuyển.

            Học viện Hậu cần: 852 CT, trong đó: Đào tạo đại học cho quân đội 402 CT; đào tạo đại học hệ dân sự 250; đào tạo cao đẳng hệ dân sự 200, khối thi A.

            Học viện Phòng không - Không quân: 360 CT, trong đó: Đào tạo đại học cho quân đội 320, khối thi A; đào tạo cao đẳng cho quân đội 40, xét tuyển.

            Học viện Hải quân: 380 CT, trong đó: Đào tạo đại học cho quân đội 350 CT, khối thi A; đào tạo cao đẳng cho quân đội 30, xét tuyển.

            Trường Đại học Chính trị: 370 CT, trong đó: Đào tạo đại học cho quân đội 300 khối thi A, C; đào tạo đại học cho Bộ Công an 70, khối thi C.

            Trường Đại học Trần Quốc Tuấn: 750 CT, trong đó: Đào tạo đại học cấp phân đội cho quân đội 400, khối thi A; đào tạo đại học ngành quân sự cơ sở 80, đào tạo cao đẳng ngành quân sự cơ sở 270, khối thi C.

            Trường Đại học Nguyễn Huệ: 705 CT, trong đó: Đào tạo đại học cấp phân đội cho quân đội 365, đào tạo đại học cho Bộ Công an 60, khối thi A; đào tạo đại học ngành quân sự cơ sở 100, đào tạo cao đẳng ngành quân sự cơ sở 180, khối thi C.

            Trường Sĩ quan Pháo binh: 125 CT, trong đó: Đào tạo đại học cấp phân đội cho quân đội 95, khối thi A; đào tạo cao đẳng cho quân đội 30, xét tuyển.

            Trường Sĩ quan Công binh: 285 CT, trong đó: Đào tạo đại học cấp phân đội cho quân đội 85, khối thi A; đào tạo cao đẳng hệ dân sự 200, xét tuyển

            Trường Sĩ quan Thông tin: 476 CT, trong đó: Đào tạo đại học cho quân đội 146, khối thi A; đào tạo cao đẳng cho quân đội 30, đào tạo cao đẳng, hệ dân sự 300, xét tuyển.

            Trường Sĩ quan Không quân: 150 CT, trong đó: Đào tạo đại học cho quân đội - phi công quân sự 50, khối thi A; đào tạo cao đẳng cho quân đội 100, xét tuyển.

            Trường Đại học Văn hóa - Nghệ thuật Quân đội: 200 CT, đào tạo đại học hệ dân sự 200, khối thi C, N, R.

            Trường Đại học Trần Đại Nghĩa: 605 CT, trong đó: Đào tạo đại học cho quân đội 155, đào tạo đại học hệ dân sự 250 khối thi A; đào tạo cao đẳng hệ dân sự 200, xét tuyển.

            Trường Sĩ quan Tăng - Thiết giáp: 30 CT, đào tạo đại học cho quân đội, khối thi A.

            Trường Sĩ quan Đặc công: 30 CT, đào tạo đại học cho quân đội, khối thi A.

            Trường Sĩ quan Phòng hóa: 30 CT, đào tạo đại học cho quân đội, khối thi A.

            Trường Cao đẳng Công nghiệp Quốc phòng: 250 CT, đào tạo cao đẳng hệ dân sự, xét tuyển khối thi A, D1.

 

            11. Bổ sung cụm thi Hải phòng và cho phép thí sinh dự thi tại cụm Vinh đăng ký học tại các trường ĐH đóng tại TPHCM:

            Bổ sung thêm cụm thi, ngoài tổ chức 3 cụm thi tại Vinh, Quy Nhơn và Cần Thơ như những năm trước, năm nay bổ sung thêm cụm thi Hải Phòng, do trường ĐH Hàng Hải làm trưởng cụm thi, tổ chức thi cho thí sinh có hộ khẩu thường trú tại TP Hải Phòng và Quảng Ninh, có nguyện vọng học tại trường ĐH Hàng Hải và các trường đại học đóng trên địa bàn thành phố Hà Nội.

            Cho phép thí sinh dự thi tại cụm Vinh đăng ký học các trường ĐH đóng tại TPHCM.

            Cho phép thí sinh có hộ khẩu thường trú tại 4 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng trị có nguyện vọng học tại trường ĐH Vinh hoặc các trường ĐH đóng tại Hà Nội như những năm trước và các trường ĐH đóng tại TPHCM được dự thi tại cụm thi Vinh, do trường ĐH Vinh làm trưởng cụm thi.

            Bộ GD-ĐT cũng cho phép một số trường trực thuộc Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch được tổ chức tuyển sinh riêng theo đề xuất của các trường. Các trường này chủ động ấn định lịch thi lệch với lịch thi của kỳ thi “ba chung” để thí sinh dự thi vào khối trường này có thêm cơ hội thi vào các trường khác.

12. Giao cho các trường tự chủ, tự chịu trách nhiệm xét tuyển:

            Căn cứ điểm sàn, chỉ tiêu tuyển sinh đã xác định, các trường tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong xét tuyển. Điểm trúng tuyển không thấp hơn điểm sàn. Không quy định số đợt, số nguyện vọng, thời gian mỗi đợt xét tuyển; không quy định điểm trúng tuyển đợt sau phải cao hơn điểm trúng tuyển đợt trước…

            Sau khi xét tuyển và triệu tập thí sinh trúng tuyển nhập học đối với thí sinh đăng ký dự thi vào trường, nếu còn chỉ tiêu, các trường thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của trường và các phương tiện thông tin đại chúng khác điều kiện xét tuyển: Thời gian nhận hồ sơ đăng ký xét tuyển; thời gian công bố điểm trúng tuyển và danh sách thí sinh trúng tuyển; chỉ tiêu cần tuyển; ngành và khối xét tuyển; mức điểm nhận hồ sơ đăng ký xét tuyển; nguồn tuyển…

            Hàng năm chậm chất là ngày 31/12, các trường phải báo cáo về Bộ kết quả tuyển sinh, kết quả thực hiện chỉ tiêu của năm. Sau thời điểm báo cáo, nếu các trường vẫn chưa tuyển hết chỉ tiêu đã xác định, nhất là các trường đào tạo theo học chế tín chỉ chỉ có thể tiếp tục tuyển sinh.

            Đối với tuyển sinh 2012,  các thông tin tuyển sinh như chuyên ngành đào tạo, chỉ tiêu tuyển sinh phân bổ cho từng ngành, môn thi năng khiếu, môn nhân hệ số, học phí, số chỗ ký túc xá, các trường công bố công khai trên trang thông tin điện tử của trường, các phương tiện thông tin đại chúng khác và chịu trách nhiệm  về các thông tin do trường công bố.

            Năm 2012, Bộ không in và phát hành cuốn Những điều cần biết về tuyển sinh như những năm trước.

           

            13. Kết thúc xét tuyển vào 30.11:

            Năm nay, Bộ GD-ĐT không khống chế thời gian nộp hồ sơ xét tuyển. Mỗi trường sẽ có quy định riêng về thời hạn nộp hồ sơ xét tuyển, điểm nhận hồ sơ xét tuyển. Tuy nhiên đến ngày 30.11, các trường sẽ kết thúc việc xét tuyển. Ngày 31.12, các trường phải báo cáo việc tuyển sinh lên Bộ GD-ĐT.

            Để tạo điều kiện thuận lợi cho thí sinh, Bộ GD-ĐT sẽ yêu cầu các trường phải tạo điều kiện cho thí sinh rút hồ sơ nếu các em muốn thay đổi nguyện vọng. Đối với những thí sinh rút hồ sơ, hiệu trưởng của các trường có quyền quy định việc trả lại lệ phí xét tuyển hoặc không trả lại. Ngoài ra, năm nay các trường vẫn phải công bố công khai và cập nhật hằng ngày số lượng hồ sơ đăng ký dự thi vào trường để thí sinh theo dõi và điều chỉnh nguyện vọng.

            Mỗi thí sinh có hai phiếu báo điểm.

            Thí sinh không trúng tuyển vào trường đã dự thi (nguyện vọng 1) nhưng có kết quả thi bằng hoặc lớn hơn điểm sàn cao đẳng đối với từng đối tượng, khu vực, không có môn thi nào bị điểm 0 sẽ được trường tổ chức thi cấp hai bản gốc giấy chứng nhận kết quả thi (có đóng dấu đỏ của trường). Hai bản gốc này có giá trị như nhau, không ghi nguyện vọng 2 và nguyện vọng 3 như những năm trước.

 

14. Đối tượng ưu tiên trong thi ĐH, CĐ:

* Chính sách ưu tiên theo đối tượng:

Mức chênh lệch điểm ưu tiên theo đối tượng là 1 điểm. Hiện nay, nhóm ưu tiên cao nhất được 2 điểm (điểm trúng tuyển thấp hơn so với học sinh KV3 là 2 điểm), đó là nhóm ưu tiên 1 (UT1), gồm các đối tượng:

- Đối tượng 1: Công dân Việt Nam có cha hoặc mẹ là người dân tộc thiểu số.

- Đối tượng 2: Công nhân trực tiếp sản xuất đã làm việc liên tục 5 năm trở lên trong đó có ít nhất 2 năm là chiến sĩ thi đua được cấp tỉnh trở lên công nhận và cấp bằng khen.

- Đối tượng 3: Thương binh, bệnh binh, người có “Giấy chứng nhận người được hưởng chính sách như thương binh”; Quân nhân, công an nhân dân tại ngũ được cử đi học có thời gian phục vụ từ 12 tháng trở lên tại khu vực 1; Quân nhân, công an nhân dân tại ngũ được cử đi học có thời gian phục vụ từ 18 tháng trở lên; Quân nhân, công an nhân dân hoàn thành nghĩa vụ đã xuất ngũ có thời gian phục vụ từ 18 tháng trở lên

- Đối tượng 4: Con liệt sĩ; Con thương binh mất sức lao động 81% trở lên; Con bệnh binh mất sức lao động 81% trở lên; Con của người được cấp “Giấy chứng nhận người hưởng chính sách như thương binh“, làm suy giảm khả năng lao động 81% trở lên; Con của Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, con của Anh hùng Lực lượng vũ trang, con của Anh hùng Lao động; Con của người hoạt động cách mạng trước ngày 1-1-1945 hoặc con của người hoạt động cách mạng từ  ngày 1-1-1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19-8-1945; Con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học là người được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công nhận bị dị dạng, dị tật, suy giảm khả năng tự lực trong sinh hoạt, học tập do hậu quả của chất độc hoá học.

Nhóm ưu tiên 2 (UT2) gồm các đối tượng: cộng 1 điểm

- Đối tượng 5: Thanh niên xung phong tập trung được cử đi học; Quân nhân, công an nhân dân tại ngũ được cử đi học có thời gian phục vụ dưới 18 tháng không ở khu vực 1.

-Đối tượng 6: Con thương binh mất sức lao động dưới 81%;Con bệnh binh mất sức lao động dưới 81%; Con của người được cấp “Giấy chứng nhận người hưởng chính sách như thương binh“, làm suy giảm khả năng lao động dưới 81%.

- Đối tượng 7:  Người lao động ưu tú thuộc tất cả các thành phần kinh tế được từ cấp tỉnh, thành phố trực thuộc TW (gọi chung là cấp tỉnh), Bộ trở lên công nhận danh hiệu thợ giỏi, nghệ nhân, được cấp bằng hoặc huy hiệu Lao động sáng tạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hoặc Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; Giáo viên đã giảng dạy đủ 3 năm trở lên thi vào các ngành sư phạm; Y tá, dược tá, hộ lý, kỹ thuật viên, y sĩ, dược sĩ trung cấp đã công tác đủ 3 năm trở lên thi vào các ngành y, dược.

* Các đối tượng ưu tiên theo khu vực:

Các thí sinh lưu ý học liên tục và tốt nghiệp trung học tại khu vực nào thì hưởng ưu tiên theo khu vực đó. Nếu trong 3 năm học trung học có chuyển trường thì thời gian học ở khu vực nào lâu hơn được hưởng ưu tiên theo khu vực đó.

Nếu mỗi năm học một trường hoặc nửa thời gian học ở trường này, nửa thời gian học ở trường kia thì tốt nghiệp ở khu vực nào, hưởng ưu tiên theo khu vực đó.

Quy định này áp dụng cho tất cả thí sinh, kể cả thí sinh đã tốt nghiệp từ trước năm thi tuyển sinh.

Các trường hợp sau đây được hưởng ưu tiên khu vực theo hộ khẩu thường trú:

-  Học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú

- Học sinh các trường, lớp dự bị ĐH

- Học sinh các lớp tạo nguồn được mở theo quyết định của các Bộ, cơ quan ngang Bộ hoặc UBND cấp tỉnh.

- Quân nhân, công an nhân dân được cử đi dự thi, nếu đóng quân từ 18 tháng trở lên tại khu vực nào thì hưởng ưu tiên theo khu vực đó hoặc theo hộ khẩu thường trú trước khi nhập ngũ, tùy theo khu vực nào có mức ưu tiên cao hơn; nếu dưới 18 tháng thì hưởng ưu tiên khu vực theo hộ khẩu thường trú trước khi nhập ngũ.

* Phân chia theo đối tượng tuyển sinh

- Khu vực 1 (KV1) gồm các địa phương thuộc miền núi, vùng cao, vùng sâu, hải đảo, trong đó có các xã thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ.

- Khu vực 2 - nông thôn (KV2-NT): Các địa phương không thuộc KV1, KV2, KV3.

- Khu vực 2 (KV2): Còn lại là các thành phố trực thuộc tỉnh (không trực thuộc trung ương); các thị xã; các huyện ngoại thành của thành phố trực thuộc trung ương: - Khu vực 3 (KV3) gồm: Các quận nội thành của thành phố trực thuộc trung ương.

Hiện nay, điểm ưu tiên cho các KV này là 0,5 điểm. Như vậy, KV 1 được ưu tiên 1,5 điểm, KV 2 nông thôn được ưu tiên 1 điểm và KV 2 là 0,5 điểm. Thí sinh thuộc KV3 không thuộc diện hưởng ưu tiên khu vực.

Theo quy chế tuyển sinh, khi thí sinh tham dự kì thi ĐH, CĐ thì sẽ được cộng hai điểm cộng ưu tiên gồm ưu tiên đối tượng và ưu tiên khu vực. Thí sinh sẽ được cộng tối đa là 3,5 điểm ưu tiên. Khi tham gia xét tuyển NV2, NV3, thí sinh vẫn được cộng điểm ưu tiên (đối tượng và khu vực).

 

            15. Đăng ký dự thi và đăng ký xét tuyển:

            15.1. Đăng kí dự thi (ĐKDT)

            a. Hồ sơ đăng ký dự thi 

            Hồ sơ đăng ký dự thi bao gồm:

            - Một túi đựng hồ sơ, phiếu số 1, phiếu số 2. (Phiếu số 1 do Sở GD-ĐT lưu giữ. Phiếu số 2 do thí sinh giữ và được sử dụng trong các trường hợp cần thiết).

            - 3 ảnh chân dung cỡ 4x6cm được chụp trong thời gian 6 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ ĐKDT; 3 phong bì đã dán sẵn tem ghi rõ họ, tên và địa chỉ, số điện thoại của thí sinh.

            - Bản sao hợp lệ giấy chứng nhận ưu tiên (nếu có).

            Riêng thí sinh có nguyện vọng học tại các trường đại học (ĐH), cao đẳng (CĐ) không tổ chức thi tuyển sinh hoặc hệ CĐ của trường ĐH, trường CĐ thuộc các đại học (sau đây gọi chung là trường) thì cần nộp thêm bản photocopy mặt trước của tờ phiếu ĐKDT số 1.

            b. Nộp hồ sơ và lệ phí đăng ký dự thi

            Học sinh đang học lớp 12 trung học phổ thông (THPT) tại trường nào thì nộp hồ sơ ĐKDT, lệ phí ĐKDT tại trường đó.

            Các đối tượng khác nộp hồ sơ ĐKDT, lệ phí ĐKDT tại các địa điểm do Sở GD-ĐT quy định. Các địa điểm này không thu hồ sơ ĐKDT, lệ phí ĐKDT của học sinh đang học lớp 12.

            Thời hạn thu nhận hồ sơ ĐKDT, lệ phí ĐKDT quy định thống nhất trên phạm vi toàn quốc như sau:

            - Theo hệ thống của Sở GD-ĐT: Từ ngày 15.3 đến 17 giờ ngày 16.4.2012;

            - Tại các trường tổ chức thi: Từ ngày 17.4 đến 17 giờ ngày 23.4.2012.

Các Sở GD-ĐT, các trường không thay đổi thời hạn, không kết thúc việc nhận hồ sơ ĐKDT, lệ phí ĐKDT trước hoặc sau thời hạn quy định.

            15.2. Đăng kí xét tuyển (ĐKXT)

            a. Hồ sơ đăng ký xét tuyển 

            Hồ sơ ĐKXT gồm: Giấy chứng nhận kết quả thi (bản gốc hay bản sao có công chứng theo quy định của từng trường) và 1 phong bì đã dán sẵn tem, có ghi rõ địa chỉ, số điện thoại liên lạc của thí sinh.

Thí sinh trúng tuyển nhập học, phải nộp Giấy chứng nhận kết quả thi có đóng dấu đỏ của trường tổ chức thi (nếu chưa nộp trong hồ sơ ĐKXT).

            b. Nộp hồ sơ và lệ phí ĐKXT

            * Trong thời hạn quy định của các trường, thí sinh nộp hồ sơ ĐKXT và lệ phí ĐKXT qua đường bưu điện chuyển phát nhanh hoặc chuyển phát ưu tiên hoặc nộp trực tiếp tại trường.

            * Hồ sơ và lệ phí ĐKXT của thí sinh dù nộp qua đường bưu điện chuyển phát nhanh hoặc dịch vụ chuyển phát ưu tiên hoặc nộp trực tiếp tại các trường trong thời hạn quy định của trường, đều hợp lệ và có giá trị xét tuyển như nhau.

            * Nếu không trúng tuyển hoặc có nguyện vọng rút hồ sơ ĐKXT đã nộp, thí sinh được quyền rút hồ sơ ĐKXT. Lệ phí ĐKXT đối với thí sinh rút hồ sơ và thí sinh không trúng tuyển do Hiệu trưởng các trường xem xét, quyết định.

            * Hằng ngày, các trường nhận và công bố công khai trên trang thông tin điện tử của trường thông tin về hồ sơ ĐKXT của thí sinh.

            c. Một số lưu ý về việc ĐKXT

            * Thí sinh đã trúng tuyển ĐH, nếu có nguyện vọng học tại trường CĐ địa phương cùng khối thi và trong vùng tuyển, phải làm đơn kèm Giấy báo trúng tuyển gửi trường CĐ có nguyện vọng học để trường xét tuyển.

            * Thí sinh dự thi ĐH theo đề thi chung chỉ được tham gia xét tuyển vào các trường ĐH khi có tổng điểm 3 môn thi từ điểm sàn ĐH trở lên; vào các trường CĐ (hoặc hệ CĐ của trường ĐH hoặc trường cao đẳng thuộc các đại học) khi có tổng điểm 3 môn thi từ điểm sàn CĐ trở lên (không có môn nào bị điểm 0).

            * Thí sinh dự thi cao đẳng theo đề thi chung, chỉ được tham gia ĐKXT vào các trường CĐ (hoặc hệ CĐ của trường ĐH; trường CĐ thuộc các ĐH) khi có tổng điểm 3 môn thi từ mức điểm tối thiểu theo quy định trở lên (không có môn nào bị điểm 0).

            * Các trường quy định việc nhận bản gốc hay bản sao Giấy chứng nhận kết quả thi của thí sinh trong hồ sơ ĐKXT.

 

16.  Hướng dẫn cách làm bài thi:

* Cách làm bài thi các môn tự nhiên: " TOÁN , LÝ HÓA ":

Nếu có một phương pháp làm bài tốt, thí sinh có thể đạt điểm tối đa. Dưới đây là vài gợi ý của các giảng viên ĐH Sư phạm TP HCM, ĐH Khoa học Tự nhiên TP HCM.

Ông Nguyễn Cam, Phó trưởng Khoa Toán - Tin học, ĐH Sư phạm TP HCM:

Để làm bài đạt hiệu quả cao nhất, thí sinh cần có tinh thần sảng khoái, minh mẫn. Như thế, những ngày gần thi chỉ nên học vừa phải, đọc kỹ những điểm hay quên. Không nên dùng chất kích thích như trà, cà phê để thức khuya học bài. Không nên thức quá 23h30". Tập dậy sớm vào buổi sáng để đến ngày thi có thể tự dậy. Một sự thức dậy miễn cưỡng sẽ làm thân thể và tinh thần mệt mỏi, không kịp chuẩn bị tâm lý để thi.

Cấu trúc một đề thi bao giờ cũng có những câu dễ, khó xen kẽ nhau. Khi nhận được đề thi, trước tiên phải đọc thật kỹ. Sau đó, phân loại những câu nào đối với mình là quen thuộc, thấy được phương pháp giải rồi thì làm trước. Trong trường hợp thí sinh cảm thấy câu đó quen nhưng chỉ làm được một phần, sau không làm nổi nữa thì nên dừng lại. Hãy chuyển sang một câu khác.

Nhiều bạn sẽ băn khoăn là có nên chừa khoảng trống, lát nữa sẽ quay lại làm sau không. Không nên chừa trống, hãy chấm câu và xuống hàng viết đề mục khác để thực hiện. Việc tạo khoảng trống trên bài thi sẽ gây phản cảm - ức chế tâm lý đối với người chấm. Nếu câu nào thí sinh không giải được hết nhưng có ý tưởng thì cũng nên viết tất cả vào.

Nếu có vẽ đồ thị, hình bằng bút chì thì phải nhớ tô lại bằng bút mực, nếu không hình minh họa của bạn có thể bị xem như không có. Không đóng khung, gạch dưới hay bất cứ ký hiệu nào khác lạ trên bài thi. Để khẳng định kết quả, sau mỗi câu nên kết luận bằng cách xuống hàng thụt đầu dòng.

Trong môn toán, bao giờ cũng có một bài hình không gian, nên vẽ hình trước và thể hiện hình càng rõ càng tốt. Cố gắng căn trang giấy để đặt hình ở vị trí dễ nhìn, đồng thời có thể đối xứng với lời giải. Khi sử dụng giấy nháp cũng cần nháp một cách rõ ràng, mạch lạc theo trình tự để kiểm tra lại dễ dàng.

Bà Vũ Thị Phát Minh, giảng viên chính Khoa Vật lý, ĐH Khoa học Tự nhiên TP HCM:

Đề thi đại học môn Vật lý có đặc thù là vừa có phần lý thuyết vừa có phần bài toán. Thường phần lý thuyết chiếm từ 4 đến 5 điểm, bài toán chiếm từ 5 đến 6 điểm. Mọi năm, phần lý thuyết sẽ nằm trong chương trình lớp 12, phần bài toán, ngoài kiến thức lớp 12 còn sử dụng kiến thức của lớp 10 và 11.

Về lý thuyết, cần chú ý cách làm bài theo lối suy luận, tổng hợp. Các năm trước, học sinh học yếu nếu học thuộc lòng lý thuyết có thể kiếm được 3 đến 4 điểm nhưng năm nay thì khác, tôi cho rằng đề thi sẽ không bắt học thuộc lòng mà đòi hỏi khả năng giải quyết vấn đề tổng hợp.

Về bài toán, lưu ý trong quá trình tính toán phải nhớ đổi đơn vị. Đây là vấn đề học sinh thường mắc phải. Phần trình bày cần ngắn gọn nhưng phải đầy đủ các bước. Vì người chấm có chấm theo từng bước nên dù thí sinhkhông đi đến kết quả cuối cùng nhưng đã giải quyết phần lớn bài toán thì cũng được một phần điểm của bài toán đó. Khi thí sinh được 6,75 điểm sẽ được làm tròn thành 7 điểm, nên hãy cố gắng lưu ý các chi tiết như vậy.

Khi bắt đầu làm bài, bài toán nào thấy rằng có khả năng làm được thì làm trước và làm đến nơi đến chốn. Tránh tình trạng câu nào cũng làm nhưng không đi đến đâu, cuối cùng cũng không được điểm.

Theo tôi, học sinh học lực khá, nắm vững lý thuyết, khả năng tính toán tốt sẽ làm được 70% - 80%, thông thường 20% còn lại dành cho những học sinh giỏi, đòi hỏi khả năng suy luận, sáng tạo.

Ông Trịnh Văn Biều, Trưởng Khoa Hóa học ĐH Sư phạm TP HCM:

Giải các bài toán hóa học: Khi giải toán nên tóm tắt đầu bài dưới dạng sơ đồ, ghi đầy đủ các dữ kiện. Có thể viết ra giấy nháp rồi dùng bút dạ tô đậm các dữ kiện quan trọng. Điều này rất cần thiết vì nó giúp cho thí sinh bao quát toàn bộ nội dung bài toán, dễ tìm ra được hướng đi và các bước thực hiện kế tiếp. Sau khi tính toán xong nên kiểm tra lại.

Một số bài toán các câu hỏi độc lập với nhau, không làm được câu trước, hãy thử làm câu sau, không nên thấy câu đầu khó đã vội bỏ. Cách trình bày bài thi: Nên trình bày ngắn gọn, rõ ràng, dứt khoát, không diễn đạt dông dài. Các phương trình, hệ phương trình nói chung không cần phải giải chi tiết vào giấy thi mà chỉ cần nêu kết quả như: “Giải hệ phương trình này ta được ...”.

Hạn chế tối đa việc trình bày lặp đi lặp lại, dang dở hết câu này sang câu khác dẫn đến tình trạng lộn xộn làm người chấm bực mình (qua cách trình bày, người chấm rất dễ đánh giá trình độ của thí sinh). Giữa các câu, các ý nhỏ của câu nên trình bày sao cho người chấm phân biệt được rõ ràng. Không nên viết liền các câu như một bài văn mà nên xuống dòng, tách riêng từng ý để giám khảo dễ chấm, không bị bỏ sót. Tận dụng tối đa các thuật ngữ thông thường vẫn dùng trong sách giáo khoa. Các bài toán có nhiều phương trình phản ứng nên đánh số để tiện sử dụng. Với phản ứng các chất hữu cơ có liên quan đến cấu tạo thì phải viết dưới dạng công thức cấu tạo thu gọn

* Cách làm bài thi các môn xã hội:

Là những môn học bài nhưng thí sinh (TS) cũng cần có phương pháp ôn tập khoa học và “mẹo” làm bài mới có thể đạt kết quả cao. - Thí sinh dự thi khối C năm 2009 tại Hội đồng thi trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM (Ảnh: Đ.N.T)

Môn Văn: Chú ý cách làm bài nghị luận xã hội

Thạc sĩ Triệu Thị Huệ - Trưởng bộ môn Văn - trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, TP.HCM

Theo cấu trúc đề thi năm 2010 của Bộ GD-ĐT, môn Văn có câu hỏi về kiểu bài nghị luận xã hội. Hai dạng bài cụ thể là: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý và nghị luận về một hiện tượng đời sống. Dung lượng bài viết quy định khoảng 600 từ.

Để làm tốt kiểu bài nghị luận xã hội, TS không chỉ biết vận dụng thao tác cơ bản của bài văn nghị luận (như giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh, bác bỏ...) mà còn phải trang bị cho mình kiến thức về đời sống xã hội. Bài làm nhất thiết phải có dẫn chứng thực tế tuy nhiên cần tránh tình trạng lạm dụng dẫn chứng mà bỏ qua các bước đi khác của quá trình lập luận.

TS cần làm rõ vấn đề nghị luận, sau đó mới đi vào đánh giá, bàn luận, rút ra bài học cho bản thân. Thực tế cho thấy, nhiều TS mới chỉ dừng lại ở việc làm rõ vấn đề nghị luận mà coi nhẹ khâu thứ hai, vốn được coi là phần trọng tâm của bài văn nghị luận. 

Môn Lịch sử: Nắm các sự kiện có hệ thống

Nguyễn Tiến Vinh - giáo viên trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa - TP.HCM 

Khi ôn tập, học sinh (HS) cần phải nắm vững toàn bộ những kiến thức cơ bản của chương trình bằng cách chia theo từng giai đoạn lịch sử. Bên cạnh đó, HS phải có kỹ năng khái quát, so sánh, liên hệ, lập bảng thống kê để tổng hợp các sự kiện, trình bày một cách có hệ thống các sự kiện trong từng giai đoạn lịch sử. Từ đó, dễ dàng giải thích các sự kiện, liên hệ thực tế...

Để bài làm thi môn Lịch sử đạt kết quả cao, nên vạch đề cương sơ lược cho mỗi câu trước khi làm bài. Chú ý số điểm của mỗi câu để phân phối thời gian hợp lý. Tránh những lỗi thường gặp như câu văn lủng củng, viết sai chính tả, trình bày không rõ ràng, viết lan man, lập luận thiếu logic, rời rạc, không tập trung vào chủ đề của câu hỏi... Tránh những sai sót về địa danh, tên nhân vật lịch sử, niên đại... 

Môn Địa lý: Nên lập dàn ý tổng quát

(Trần Văn Quang - tổ trưởng Địa lý trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa - TP.HCM)

Đề thi luôn có 1 câu kỹ năng 3 điểm, các em cần phải rèn luyện kỹ năng vẽ, nhất là vẽ lược đồ Việt Nam. Trong kỳ thi ĐH-CĐ, đề thi thường yêu cầu TS phải biết vẽ lược đồ Việt Nam với chiều dài bằng tờ giấy thi.

Trong kỳ thi tuyển sinh ĐH-CĐ, TS không được sử dụng Atlat Địa lý Việt Nam. Về cách làm bài, TS nên đọc kỹ đề ít nhất 3 lần, gạch chân ý chính, sau đó lập dàn bài tổng quát để bài làm đầy đủ theo đúng trình tự và nên xuống dòng sau mỗi ý. Không viết tắt, không dùng các ký hiệu như mũi tên, vòng tròn, hoa thị... Chọn câu dễ, câu ngắn làm trước.

Đọc lại bài trước khi nộp, nếu thấy sai chỉ cần gạch chéo, tránh tô, xóa. Nếu thấy thiếu, không viết chen vào vì nhiều khi chữ nhỏ quá hoặc các dòng chèn vào nhau khó đọc. Tốt nhất làm bổ sung ở bên dưới, nhớ ghi câu số mấy và ghi thêm chữ bổ sung (ví dụ: câu 3 bổ sung). Khi chấm đến phần cuối, giám khảo sẽ cho điểm bổ sung vào câu đó.

            17. Tuyển thẳng học sinh dân tộc thiểu số:

            Thay vào đó, việc xét tuyển thẳng ĐH sẽ được dành trực tiếp cho học sinh thiểu số, chứ không chung chung là cộng điểm cho trường dân tộc thiểu số như trước. Việc cộng điểm cho trường đã gây ra tiền lệ xấu khi nhiều em hộ khẩu nơi khác đăng ký theo trường dân tộc thiểu số để được cộng điểm. Theo đó, thí sinh là người dân tộc thiểu số, thí sinh có hộ khẩu thường trú tại 62 huyện nghèo từ ba năm trở lên tính đến ngày nộp hồ sơ xét sẽ được tuyển thẳng vào những trường ĐH còn chỉ tiêu, đặc biệt khuyến khích các em vào học trường ĐH đóng ở địa phương.

            Để bảo đảm chất lượng, những thí sinh này sau khi nhập học được học bổ sung kiến thức một năm học, trước khi vào học chính thức. Chương trình bổ sung kiến thức do hiệu trưởng các trường quy định.

 

            18. Các trường trong khối ngành kĩ thuật có tỷ lệ “chọi” và điểm chuẩn đều không quá cao.

            Tỷ lệ chọi cao nhất 1/8

            Nằm trong số những trường có nhiều thí sinh đăng ký dự thi, ĐH Công nghiệp Hà Nội, năm 2011, nhận tổng cộng hơn 71.000 hồ sơ, tăng hơn 19.000 hồ sơ so với năm 2010. Trong đó, chỉ tiêu vào trường 8.650, tỷ lệ “chọi” vào trường khoảng 1/8.

            ĐH Giao thông vận tải năm 2011 nhận được hơn 17.000 hồ sơ, chỉ tiêu vào trường 4.700, tỷ lệ “chọi” khoảng 1/3,5.

Năm 2011, ĐH Thủy lợi nhận hơn 14.000 hồ sơ, chỉ tiêu vào trường là 2.600, tỷ lệ “chọi” 1/5,5.

            ĐH Mỏ - Địa chất năm 2011 nhận được hơn 15.000 hồ sơ, chỉ tiêu vào trường là 3.800, tỷ lệ “chọi” vào khoảng 1/4.

            ĐH Điện lực nhận được gần 12.000 hồ sơ, tăng hơn so với năm trước khoảng hơn 1.000 bộ. So với chỉ tiêu vào trường năm 2011 là 2.100, tỷ lệ “chọi” khoảng 1/5,5.

            Điểm chuẩn không cao

            Đại học Công nghiệp Hà Nội, năm 2011, nhiều hồ sơ đăng ký dự thi, nhưng điểm chuẩn vào trường cao nhất chỉ 17, các ngành khác chủ yếu chỉ từ 13 - 15,5 điểm.

            Điểm chuẩn các ngành vào trường ĐH Công nghiệp cụ thể như sau: Công nghệ kĩ thuật Cơ khí, Công nghệ kĩ thuật cơ điện tử: 15,5 điểm; Công nghệ kĩ thuật Ô tô, Công nghệ kĩ thuật Điện, Điện tử (Chuyên ngành công nghệ kĩ thuật Điện), Công nghệ kĩ thuật Điện tử, truyền thông: 15 điểm; Khoa học máy tính: 13,5 điểm.

            Ngành Kế toán, Tài chính ngân hàng cao nhất là 17 điểm (khối A), khối D1: 16,5 điểm; Công nghệ kỹ thuật Nhiệt, Công nghệ may (chuyên ngành thiết kế thời trang), Công nghệ kĩ thuật Hóa học, Việt Nam học cùng 13 điểm; Quản trị kinh doanh (khối A): 15,5 điểm, khối D1:15 điểm.

            Ngành Ngôn ngữ Anh (hệ số 2 môn Tiếng Anh): 19,5 điểm; Công nghệ điều khiển và tự động hóa: 15,5 điểm; Hệ thống thông tin, Kỹ thuật phần mềm: 13,5 điểm.

            ĐH Thủy Lợi, năm ngoái, điểm chuẩn cũng không cao. Cơ sở tại Hà Nội: 15 điểm; cơ sở tại TPHCM: 13 điểm; điểm chuẩn hệ cao đẳng cùng 10 điểm tại hai cơ sở.

            Ðiểm chuẩn chi tiết vào các ngành của ĐH Thủy Lợi cao nhất là 17,5 điểm, thấp nhất 13 điểm.

            Cụ thể các ngành như sau: Kỹ thuật công trình: 17,5 điểm (cơ sở Hà Nội), 13,0 (cơ sở TPHCM); Kỹ thuật tài nguyên nước: 15,0 điểm (cơ sở Hà Nội), 13,0 điểm (cơ sở TPHCM); Thuỷ vãn và tài nguyên nước, Kỹ thuật Thuỷ điện và năng lượng tái tạo, Kỹ thuật cơ khí: 15,0 điểm;

            Công nghệ thông tin, Cấp thoát nước, Kỹ thuật bờ biển, Kỹ thuật môi trường, Kỹ thuật hạ tầng và phát triển nông thôn, Kỹ thuật điện: 15,0 điểm; Công nghệ kỹ thuật xây dựng: 16,5 điểm; Kinh tế tài nguyên thiên nhiên, Quản trị kinh doanh: 16,0 điểm; kế toán: 17,0 điểm.

            Điểm chuẩn Trường ĐH Giao thông vận tải năm 2011 vào tất cả các ngành là 16,5 điểm; đối với thí sinh dự thi tại cơ sở II (mã GSA), điểm trúng tuyển là 13.

            Các ngành điểm trường tuyển sinh năm 2011 như sau: Xây dựng cầu đường, Vô tuyến điện và Thông tin liên lạc, Tự động hoá, Cơ khí chuyên dùng, Vận tải, Kĩ thuật Điện - Điện tử, Tin học, Kĩ thuật Môi trường, Kĩ thuật An toàn giao thông, Kĩ thuật Xây dựng, Kinh tế Vận tải, Kinh tế Xây dựng, Kinh tế Bưu chính viễn, Quản trị kinh doanh, Kế toán.

            Trường Đại học Mỏ - Địa chất điểm chuẩn hệ đại học chính quy năm 2011 không cao, dao động từ 14,0 - 17,0 điểm; hệ cao đẳng tất cả các ngành 10,0 điểm.

            Cụ thể, Ngành Dầu khí: 17,0 điểm; Địa chất, Trắc địa, Mỏ: 14,5 điểm; Công nghệ thông tin, Cơ điện, Xây dựng, Môi trường: 14,0 điểm; Kinh tế: 15,0 điểm.

            Năm 2011, điểm chuẩn của ĐH Điện lực cũng không cao, các ngành chủ yếu từ 15,5 điểm, ngành cao nhất là 17,0 điểm.

            Điểm các ngành chi tiết như sau: Hệ thống điện: 17,0 điểm; Quản lý năng lượng, Điện công nghiệp và dân dụng, Tài chính ngân hàng, Kế toán: 16,0 điểm; Nhiệt điện, Điện lạnh, Điện hạt nhân, Công nghệ thông tin, Công nghệ tự động, Kỹ thuật điện tử, Điện tử y sinh, Điện tử viễn thông, Công nghệ cơ khí, Công nghệ Cơ điện tử, Quản trị kinh doanh: 15,5 điểm.

 

 

_____________________________________

 

 

 

PHẦN II:

MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ NGÀNH HỌC, VIỆC LÀM HIỆN NAY

 

1. Kinh nghiệm chọn ngành:

Lựa chọn ngành nghề cho tương lai là vấn đề rất quan trọng đối với học sinh trước mỗi mùa thi, tuy nhiên hiện nay, không phải mọi học sinh đều biết cách để lựa chọn đúng ngành nghề để thi. Kinh nghiệm cho thấy bốn yếu tố sau đây sẽ giúp ích cho học sinh rất nhiều trong quá trình lựa chọn ngành nghề:

- Chọn theo sở thích, nguyện vọng: Lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với nguyện vọng và sở thích của mình là yếu tố quan trọng nhất. Bởi vì ngành nghề xã hội là rất phong phú, đa dạng, việc chọn đúng ngành nghề là cơ sở để học sinh có được một công việc tốt, phù hợp để xây dựng cuộc sống của mình trong tương lai. Những ngành nghề mà học sinh yêu thích từ nhỏ, nếu bây giờ vẫn còn yêu thích thì nên tiếp tục theo đuổi vì khả năng phù hợp với bản thân sẽ rất cao.

- Chọn theo năng lực: Hầu hết phụ huynh đều mong muốn cho con mình vào ĐH. Đây là mong muốn chính đáng và hoàn toàn tốt. Tuy nhiên, mỗi học sinh có một khả năng học tập riêng biệt.

Vì thế, nếu học tập ở mức trung bình khá trở xuống thì chỉ nên chọn những ngành nghề ở các trường ĐH với mức trung bình hoặc chọn các trường CĐ và trung cấp, sau đó học liên thông lên ĐH. Không nên chọn ngành nghề theo phong trào, theo bạn bè. Nhiều học sinh thấy bạn mình thi vào trường nào, ngành nào thì bắt chước làm hồ sơ đăng ký theo.

- Chọn theo hoàn cảnh gia đình: Gia đình cũng là một yếu tố quan trọng trong việc định hướng và phát triển sự nghiệp của học sinh. Những học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn cần phải cân nhắc trong việc lựa chọn trường thi và ngành học. Chẳng hạn như trường học sẽ xa hay gần, chi phí cao hay thấp... để thuận lợi hơn trong việc đi lại và giảm bớt gánh nặng chi phí cho gia đình.

- Chọn theo nhu cầu xã hội: Đây là vấn đề cực kỳ khó khăn bởi chúng ta khó dự đoán được 5 năm, 10 năm và lâu hơn nữa, xã hội cần ngành nghề nào. Tuy nhiên, cũng không phải là bó tay vì có nhiều cách để xác định được nhu cầu lao động, ngành nghề của xã hội, như: Xem thông tin trên các trang web tuyển lao động hằng năm, định hướng cơ cấu ngành nghề của địa phương mình, tỉnh bạn, thậm chí cả khu vực

Việc đổ xô vào những ngành được cho là “nóng” ở thời điểm này nhưng tương lai như thế nào là chưa biết trước sẽ khiến cho một số ngành thừa lao động trong khi ngành khác lại thiếu, hiện tượng “thừa thầy, thiếu thợ” tiếp diễn.

Lựa chọn ngành nghề hợp lý sẽ đáp ứng được nhu cầu lao động của xã hội, giải quyết được nạn thất nghiệp, là cách tốt nhất để một người có thể tiếp tục phát triển nghề nghiệp trong tương lai.

Chọn ngành nhiều cơ hội trúng tuyển

Nhiều trường ĐH tuyển không đủ chỉ tiêu, nhưng cũng còn nhiều thí sinh có kết quả thi từ điểm sàn trở lên nhưng vẫn không trúng tuyển vào ĐH, không phải vì các bạn không đủ năng lực để vào ĐH mà chính là các bạn chưa biết tự tạo cơ hội và chưa lập kế hoạch để quyết tâm giành lấy cơ hội đó cho mình.

Để chọn con đường đi sau khi tốt nghiệp THPT, rất nhiều bạn trẻ quan tâm đến bằng cấp của trường công lập, quan tâm đến những ngành học "hot", quan tâm đến cơ hội việc làm... Và mặc dù công tác hướng nghiệp đã dần định hướng học sinh chọn ngành phù hợp với sở thích nghề nghiệp nhưng chỉ những điều đó thôi dường như chưa đủ để bạn giành được "tấm vé" ĐH. Bởi ngoài chọn ngành phù hợp với sở thích nghề nghiệp thì yếu tố quyết định để giành được "tấm vé" ĐH chính là năng lực học tập của chính mình.

Năng lực học tập của bản thân được đo lường qua quá trình học THPT, cụ thể qua các môn học có liên quan đến các khối thi ĐH như: Toán, Lý, Hóa; Toán, Hóa, Sinh; Văn, Sử, Địa; Toán, Văn, Ngoại ngữ. Ngoài ra, theo quy định của Bộ GD-ĐT, đề thi được ra theo chương trình THPT hiện hành, chủ yếu là chương trình lớp 12, vì vậy có thể nhận thêm trọng số cho kết quả học tập ở lớp 12. Từ đó, tự bản thân mỗi học sinh đều có thể xác định được khối thi nổi trội nhất, ghi lại điểm trung bình THPT của 2 khối thi nổi trội nhất. Từ mức điểm trung bình trên, các bạn đã có thể đối chiếu với điểm chuẩn của các trường qua nhiều năm để chọn ngành phù hợp với sức học của mình.

Tuy nhiên, các bạn lưu ý: Cần tham khảo điểm chuẩn của nhiều năm vì hiện nay vẫn còn rất nhiều bạn trẻ chọn ngành dự thi dựa vào tỷ lệ đăng ký dự thi/chỉ tiêu (K) của năm trước, cho nên thường dẫn đến nghịch lý nếu ngành A có K năm trước thấp thì thường K của năm nay sẽ tăng hoặc ngược lại.

Điểm trung bình (ĐTB) của 2 khối thi mà bạn đã ghi nhận chính là quá trình học ở bậc THPT. Khi dự thi, bạn có thể bị nhiều yếu tố chi phối, đặc biệt là tâm lý của người đi thi, vì vậy bạn cần ước tính tỷ lệ phần trăm làm bài thi tuyển sinh ĐH (T). T thường nhỏ hơn 100% và phụ thuộc vào trình độ của mỗi thí sinh. Bạn cũng có thể ước tính T bằng cách thử giải đề thi tuyển sinh của các năm trước (trong điều kiện như trong phòng thi thật), rồi nhân với ĐTB THPT của khối thi tương ứng để có được mức điểm ước đạt. Căn cứ mức điểm này, bạn sẽ có sự lựa chọn chính xác hơn. Ví dụ, bạn có ĐTB THPT khối A là 20 điểm, T 80%, như vậy mức điểm ước đạt của khối A sẽ là 20 X 80% = 16 điểm. Từ mức điểm ước đạt này, đối chiếu với mức điểm chuẩn của các trường qua nhiều năm, bạn sẽ có sự lựa chọn tốt hơn.

Không nên quá lo lắng về nội dung, chương trình đào tạo và bằng cấp vì căn cứ chương trình khung do Bộ GD-ĐT ban hành, các trường xây dựng chương trình đào tạo cho trường mình. Như vậy, cùng một ngành học, giữa các trường sẽ có ít nhất 60% số môn học là giống nhau. Phần kiến thức chuyên ngành sẽ do các trường quy định tùy thế mạnh, định hướng phát triển của từng đơn vị.

Đào tạo trình độ cao đẳng giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ bản để giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành được đào tạo. Đào tạo trình độ đại học giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn và có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo.

Như vậy, có thể nói giáo dục đại học giúp bạn chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai nhưng không giới hạn ở một nghề nghiệp cụ thể nào. Bất cứ ngành học nào cũng có thể giúp bạn chuẩn bị cho một số nghề nghiệp khác nhau. Ví dụ: tốt nghiệp ngành Công nghệ thông tin, có thể làm chuyên viên chế tạo, lắp ráp và sửa chữa phần cứng; lập trình viên; chuyên viên quản trị hệ thống và an ninh mạng; chuyên viên thiết kế đồ họa web; nhân viên phòng kinh doanh dịch vụ phát triển sản phẩm phần mềm; chuyên viên tư vấn và triển khai phần mềm chuyên viên phòng đào tạo, phòng tổ chức hành chính, phòng kế hoạch tài chính; giảng viên...

Bằng cấp không là yếu tố quyết định việc tuyển dụng mà chính là năng lực thực sự của người xin việc. Bạn không nên quá bị bó buộc vào một nghề nào đó để tìm ra một ngành phù hợp và cần nhìn xa trông rộng, tự lượng sức mình khi chọn một ngành học sau trung học phổ thông.

Chọn ngành học dễ kiếm việc làm

Băn khoăn lớn nhất của không ít thí sinh (TS) khi dự thi ĐH-CĐ là chọn ngành nghề như thế nào để sau khi ra trường dễ kiếm việc làm.

Để giải tỏa những băn khoăn này, PV Thanh Niên đã ghi nhận ý kiến từ các chuyên gia có kinh nghiệm trong việc tư vấn nghề nghiệp cho thanh niên.

Nên chọn ngành đào tạo rộng

Theo bà Nguyễn Thị Lan Hương - Viện trưởng Viện Khoa học lao động và xã hội, thì kinh nghiệm của các nước cho thấy những ngành có phạm vi đào tạo rộng sẽ giúp người lao động dễ có việc làm, còn những ngành phạm vi đào tạo hẹp hoặc chuyên biệt đặc thù sẽ khó xin việc. Bà Hương cho rằng, khi TS dự thi ĐH thì 5 năm sau, nhu cầu xã hội còn nhiều biến động, vì vậy TS nên chọn những ngành đào tạo liên thông, phạm vi đào tạo rộng mang tính chất đa ngành, liên ngành chứ không nên tập trung vào những ngành chỉ đào tạo kỹ năng thì khi ra trường sẽ dễ tìm được việc làm.

Dự báo trong thời gian tới, những ngành dịch vụ sẽ tiếp tục phát triển và phát triển nhanh đó là dịch vụ bán lẻ, dịch vụ về tài chính, ngân hàng, dịch vụ du lịch, bảo hiểm, địa ốc... Những ngành này có sự sàng lọc rất kỹ về lao động, yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao nên có khả năng sẽ thiếu hụt nhân lực. Bên cạnh đó, những ngành có lợi thế của Việt Nam như: điện tử, cơ khí lắp ráp, cơ khí sửa chữa, vận hành... cũng sẽ tiếp tục phát triển.

Những ngành giá trị trong 10 năm

Ông Huỳnh Ngô Tịnh - Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ thanh niên - công nhân (Thành Đoàn TP.HCM), cho rằng xu hướng một số ngành trong vòng 10 năm nữa sẽ vẫn có giá trị. Bởi nền thị trường toàn cầu, nền kinh tế hội nhập phát triển kéo theo một loạt các ngành đi theo vì chuyện mua bán không còn trong khu vực mà trở thành quốc tế, giao thương toàn cầu. Chúng ta cần phải học về quản trị kinh doanh, thương mại, ngoại ngữ, luật pháp quốc tế... Những ngành nghề như thế sẽ có xu hướng phát triển trong tương lai.

Ông Tịnh cho biết thêm: xu hướng về dịch vụ là một xu hướng sẽ phát triển nhanh vì ai cũng sử dụng dịch vụ, cái gì cũng có dịch vụ, mọi việc đều có dịch vụ. Chẳng hạn chúng ta làm về tâm lý thì sẽ có tư vấn về tâm lý, về kinh tế thì tư vấn về kinh tế, bảo trì, bảo hành và một số dịch vụ thẩm mỹ liên quan đến con người... Xu hướng công nghệ thông tin và viễn thông giai đoạn hiện nay còn rất thiếu nhân lực tay nghề cao, thiếu lập trình viên, đặc biệt là những người giỏi thật sự. Xu hướng về giáo dục và đạo tạo. Ngày nay, việc học không dừng lại ở đại học mà còn phải học một số chuyên ngành khác để phục vụ cho giáo dục và đào tạo. Vì mỗi lĩnh vực chuyên ngành đều có thể tham gia vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Xu hướng về giải trí, giai đoạn tới sẽ còn phát triển vì thu nhập và đời sống của con người ngày càng cao. Nhu cầu giải trí sẽ kéo theo nhiều hoạt động cho giải trí. Xu hướng về công nghệ sinh học phục vụ cho đời sống con người, bởi đội ngũ kỹ sư sinh học phục vụ nhu cầu ấy còn rất thiếu.

Xu hướng an toàn môi trường. Vì vấn đề môi trường hiện nay đã là một vấn đề lớn báo động toàn cầu. ĐH đã có những ngành nghề môi trường. Kỹ sư không những phục vụ cho công việc nghiên cứu bảo vệ môi trường mà sắp tới, mỗi doanh nghiệp sản xuất cần một cán bộ về môi trường. Xu hướng về an toàn cá nhân. Khi con người đã ăn no mặc ấm thì an toàn cá nhân trở thành nhu cầu cần thiết. Thời gian gần đây, các ca sĩ nổi tiếng đã có vệ sĩ, nhưng an toàn cá nhân không chỉ dừng lại ở đây, chẳng hạn an toàn về sức khỏe thì có một số nhóm ngành an toàn về y tế; an toàn về tài chính có một số nhóm ngành về tài chính như nghề bảo hiểm, bảo hộ lao động...

Ngoài ra còn có xu hướng công nghiệp và xây dựng kiến trúc đô thị. Nhu cầu xây dựng các công trình dân dụng ngày càng cao thì xã hội càng cần đội ngũ kiến trúc sư, trang trí nội thất.

 

Không ít bạn trẻ hiện nay chọn ngành nghề dựa trên thứ tự ưu tiên: kiếm được nhiều tiền, làm việc nhẹ nhàng và không phải đụng chân đụng tay.

Trên một diễn đàn, tranh luận của giới trẻ xoay quanh xu hướng chọn ngành nghề thì “ngành hot”, “ngành đang được cho là dễ kiếm việc, kiếm nhiều tiền” bao giờ cũng áp đảo xu hướng chọn ngành nghề theo sở thích.

Thích ngành này lại... muốn ngành kia.

Trong buổi đưa học sinh Trường THPT chuyên Tiền Giang đi tham quan tìm hiểu ngành nghề tại Trường ĐH Ngân hàng TP.HCM cuối tháng 12-2010, cô Nguyễn Thị Mỹ Duyên - giáo viên phụ trách hướng nghiệp lâu năm ở trường - bày tỏ lo ngại những năm gần đây số học sinh chọn ngành nghềtheo đam mê giảm rõ rệt so với trước đó. Cô Mỹ Duyên đưa ra một khảo sát nhỏ do cô thực hiện tại trường như sau: năm học 2006-2007, số học sinh khẳng định “theo đuổi đến cùng” ngành học yêu thích chiếm trên 80%, đến năm học 2009-2010 con số này chỉ dừng lại ở khoảng 30%”.

Tương tự, cô Hoàng Thị Diễm Trang - phó hiệu trưởng Trường THPT Gia Định (TP.HCM) - nhận định nhiều học sinh đang có tâm lý “ăn xổi” trong việc chọn ngành nghề. Số học sinh rẽ sang hướng khác so với sở thích của mình cũng có chiều hướng tăng lên. “Do thiếu thông tin về ngành nghề nên nhiều bạn theo những trào lưu trước mắt chứ ít có hoạch định lâu dài - cô Diễm Trang nhận xét - Chẳng hạn trong danh sách tham quan hướng nghiệp đến Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM), những ngành nghề bắt đầu bằng chữ “công nghệ” luôn dẫn đầu số học sinh đăng ký tìm hiểu”.

Bên cạnh đó, khảo sát về xu hướng chọn ngành nghề của học sinh - do một nhóm sinh viên thực hiện - trên 558 học sinh lớp 12 một trường THPT ở Đồng Nai cho thấy chỉ có 41,8% (233 bạn) sẽtheo đuổi ngành nghề mình mơ ước. Số còn lại “chưa định hướng được”, “nhiều định hướng”, “đang phân vân” và “sẽ theo nghề nghiệp của người thân, anh chị”.

Cô Nguyên Hương - chuyên viên tư vấn học đường tổng đài 1080 - cũng bày tỏ việc học sinh gọi điện đến tổng đài nhờ tư vấn vì thích ngành này lại muốn theo đuổi một ngành khác rất phổ biến trong thời gian gần đây.

 

2. Học nghề, một con đường lập nghiệp bền vững

* Đường rộng: 

Theo TS Nguyễn Kim Thiết (Viện trưởng viện Công nghệ Hà Nội), chính sách về dạy nghề có nhiều khởi sắc. Bộ GDĐT đã cho phép các trường TCCN tổ chức nhiều đợt xét tuyển trong năm. Đối tượng tuyển được mở rộng tới cả HS chưa đỗ tốt nghiệp THPT.Theo ông Dương Đức Lân - Phó Tổng cục trưởng TCDN, thông tư liên tịch số 27/2010 giữa bộ LĐTBXH và bộ GDĐT đã tạo điều kiện giúp bạn trẻ các trường TCCN, CĐ nghề có thể học lên ĐH.

Các trường nghề cũng sự điều chỉnh nhanh nhạy. Nhiều trường CĐ tại Hà Nội nới lỏng quy định tuyển sinh: chấp nhận xét tuyển cả đối tượng học sinh có hộ khẩu ngoài địa bàn thành phố. Các trường TC, CĐ đã ý thức tới “đầu ra” của quá trình đào tạo, chú trọng thành lập bộ phận GTVL, quan hệ DN. Bộ LĐTBXH đánh giá, tỉ lệ học sinh học nghề tự tìm được việc làm chiếm trên 70%.

* Dòng chảy ngược:

Cơ hội học nghề khá rộng mở, tuy nhiên học sinh “quay lưng” với trường nghề vẫn là thực trạng. Điều này dễ thấy ở sự ưu tiên lựa chọn khi dự thi vào ĐH, CĐ của số đông học sinh THPT, bỏ mặc những tư vấn hướng nghiệp trong 3 năm THPT. Hệ thống các trường nghề chỉ là sự lựa chọn thứ hai, ba của bạn trẻ. Một bộ phận không nhỏ bạn trẻ lơ là việc học nghề, vì coi đó bước đệm thi trượt ĐH hoặc để gia đình tìm một “con đường” vòng khác tới ghế trường ĐH. 

Theo nhiều chuyên gia, nhận thức của xã hội về giáo dục nghề nghiệp còn chưa đúng, công tác thông tin thị trường lao động không xứng tầm.Theo ông Hoàng Hữu Niềm - Trưởng phòng Giáo dục chuyên nghiệp (Sở GDĐT Hà Nội), các trường TCCN chưa thu hút được học sinh do mức chi ngân sách cho khối TCCN còn hạn hẹp, việc thiếu đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị thực hành, thực tập đồng bộ, đáp ứng thực tế công việc...Các trường THPT chưa làm tốt công tác hướng nghiệp, phát hiện năng lực của học sinh. Một yếu tố khiến tỷ lệ học sinh thi vào trường nghề còn yếu là do các trường ĐH, CĐ có xu hướng tăng chỉ tiêu tuyển sinh...   

 

3. Ngành học nào đang "hot"?

Kinh tế lên ngôi, Kỹ thuật xuống giá, Y Dược phong độ, Ngoại ngữ ế ẩm 

Xu hướng chọn ngành nghề trong giới trẻ hiện nay phản ánh nhu cầu nghề nghiệp, nhân lực… Tuy nhiên, thực tế này vẫn bị ảnh hưởng bởi trào lưu mà chưa có một dự báo nhu cầu nghề nghiệp đáng tin cậy.

* Y - Dược phong độ

“Nhất Y, nhì Dược” - câu nói nổi tiếng trong giới sinh viên từ xưa ngày càng được chứng minh qua các kỳ tuyển sinh ĐH.

Khối B vốn là khối có tổng chỉ tiêu tuyển sinh không nhiều so với tổng thí sinh dự thi nên tỷ lệ chọi ở các ngành, các trường ở khối này khá gay gắt. Những năm gần đây, điểm chuẩn vào các ngành bác sỹ trong các trường này luôn ở mức gây sốc.

ĐH Y Hà Nội năm 2007 lấy điểm chuẩn ngành Bác sỹ đa khoa 27,5 điểm còn năm 2008 lấy điểm chuẩn ngành Bác sỹ Răng hàm mặt ở mức điểm cao ngất ngưởng 28,5 điểm (trung bình 9,5 điểm/môn). ĐH Y Dược TP.HCM năm 2007 cũng lấy điểm các ngành Bác sỹ Răng hàm mặt, Dược sỹ và Bác sỹ đa khoa từ 27-27,5 điểm còn năm 2008 từ 26-27 điểm. ĐH Dược cũng luôn dao động ở mức 24-25 điểm.

Năm nay, mặc dù mặt bằng điểm chuẩn của các ngành này không cao bằng năm ngoái, nhưng số lượng điểm thi ĐH khối B từ 27 điểm trở lên vẫn hầu hết đều tập trung ở các này.

Một loạt thủ khoa các trường ĐH lớn phía Nam, như Lê Viết Sơn (ĐH Khoa học Tự nhiên), Trần Duy Khiêm (ĐH Ngoại Thương cơ sở 2), Bùi Đình An (Khoa Kinh tế, ĐHQG TP.HCM), Cao Thị Thu Nga (ĐH Kinh tế TP.HCM)… đều không theo học ở trường họ đỗ thủ khoa mà chọn ĐH Y Dược TP.HCM.

Nhiều thủ khoa phía Bắc, như Nguyễn Việt Hà (Học viện Ngân hàng), Nguyễn Chí Dũng (ĐH Y Hà Nội)… chọn ĐH Y Hà Nội. Điều ấy cũng chứng tỏ sức hút mạnh mẽ từ khối trường Y - Dược.

* Kinh tế ngày càng hot

Có lẽ chưa bao giờ những ngành thuộc khối Kinh tế - Tài chính - Ngân hàng được ưa chuộng như giai đoạn gần đây. Theo thống kê tuyển sinh năm 2009, số hồ sơ đăng ký dự thi vào khối ngành Kinh tế - Quản trị kinh doanh chiếm tới hơn 810 ngàn hồ sơ, chiếm 38% tổng số hồ sơ.

Năm nay, mức điểm chuẩn cao nhất của các trường hàng đầu trong khối ngành Kỹ thuật - Công nghệ vẫn chưa bằng mức điểm chuẩn thấp nhất vào các trường top trên trong khối ngành Kinh tế - Tài chính - Ngân hàng.

Cụ thể, điểm chuẩn thấp nhất của ĐH Ngoại Thương là 23,5 (gần 8 điểm/môn) còn ĐH Kinh tế quốc dân Hà Nội là 22,5 điểm, Học viện Ngân hàng và Học viện Tài chính là 22 điểm…

Trong khi đó, điểm chuẩn cao nhất vào ĐH Bách khoa Hà Nội là 21 điểm, ĐH Bách khoa TP.HCM là 21,5 điểm, ĐH Khoa học Tự nhiên Hà Nội là 20 điểm, ĐH Khoa học Tự nhiên TP.HCM là  18 điểm, ĐH Công nghệ (ĐHQG Hà Nội) là 20,5 điểm…

Nếu như cách đây 2-3 năm, lượng thí sinh điểm cao, đặc biệt là số lượng thủ khoa trong toàn quốc ở khối A tập trung nhiều ở các trường khối Kỹ thuật thì năm nay chứng kiến sự lên ngôi đặc biệt của các trường ĐH Ngoại Thương, ĐH Kinh tế quốc dân Hà Nội… Điều này cho thấy xu hướng các học sinh giỏi “dịch chuyển” mơ ước nghề nghiệp từ khối ngành Kỹ thuật - Công nghệ sang khối Kinh tế - Tài chính.

Theo nhận định của một số chuyên gia tuyển sinh thì nhu cầu đào tạo ngành Kinh tế, Tài chính, Ngân hàng vẫn có xu hướng tăng do nguồn cung hiện tại vẫn chưa đáp ứng đủ cầu, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao. rất nhiều trường ĐH, CĐ có đào tạo ngành Tài chính - Ngân hàng với quy mô đào tạo tăng lên nhanh chóng.

* Kỹ thuật mất vị thế

Cách đây khoảng vài năm những cụm từ như Kinh tế tri thức, mũi nhọn Công nghệ Thông tin, tiềm năng Công nghệ Sinh học… có sức hút rất lớn đối với học sinh, sinh viên. Các ngành học Công nghệ Thông tin, Điện tử Viễn thông… trở thành thời thượng vì được dự báo nhu cầu nhân lực và cơ hội nghề nghiệp sẽ đầy sáng lạn ngay trong tương lai gần. Những trường ĐH top trên trong khối ngành này tha hồ yên tâm tuyển chọn thí sinh với chất lượng cao vì nguồn tuyển dồi dào.

Tuy nhiên, khối ngành này có sự rớt giá trong thời gian gần đây, đặc biệt năm nay xu hướng này nổi trội dễ nhận thấy. Điểm chuẩn của các trường top trên khối Kỹ thuật – Công nghệ - Khoa học đều thụt lùi khá nhiều so với chỉ 1-2 năm trước đây. Các trường lớn như ĐH Khoa học Tự nhiên TP.HCM, ĐH Bách khoa TP.HCM, ĐH Khoa học Tự nhiên Hà Nội, ĐH Công nghệ (ĐHQG Hà Nội)… điểm chuẩn rất nhiều ngành đều giảm tới 2 điểm, thậm chí 3-4 điểm. Thậm chí, nhiều trường hàng đầu năm nay phải tuyển một số lượng lớn nguyện vọng 2.

Năm nay, không ít thủ khoa khối A bày tỏ sự đánh giá thấp triển vọng nghề nghiệp ở khối ngành từng là rất hot với các lứa thủ khoa trước đây. Ngay các đại diện tuyển sinh của nhiều trường danh tiếng như ĐH Công nghệ, ĐH Khoa học Tự nhiên - ĐHQG Hà Nội cũng bày tỏ sự quan ngại trước tình hình các học sinh giỏi không mặn mà với những ngành khoa học, kỹ thuật mà hướng tới những ngành có triển vọng dễ kiếm tiền.

Tuy nhiên, điều này cũng cho thấy, quy hoạch nghề nghiệp và dự báo nhu cầu nhân lực ở tầm vĩ mô còn chưa có độ tin cậy.

* Ngoại ngữ ế ẩm

Khối ngành Ngoại ngữ cũng một thời được giá giờ rơi xuống khu vực các ngành ế ẩm, đặc biệt là những ngành không phải tiếng Anh. Ở những trường top trên, tình hình còn khả quan còn ở khối các trường ngoài công lập, thậm chí có nhiều ngành phải tạm đóng cửa vì số lượng sinh viên đăng ký theo học quá ít, không đủ con số tối thiểu để mở lớp.

Chẳng hạn ngành Tiếng Nhật ở ĐH Hùng Vương nhiều năm liền rơi vào cảnh thiếu hụt hồ sơ xét tuyển. Ở nhiều ĐH khác, như những ngành tiếng Đức, tiếng Trung, tiếng Pháp, Trung Quốc học tại ĐH Ngoại ngữ - Tin học cũng phải tạm ngừng tuyển sinh vì quá ít thí sinh đăng ký học. Thí sinh trúng tuyển được động viên chuyển sang một số ngành khác tại trường.

Với tình hình ế ẩm như vậy, rất nhiều khả năng đến mùa tuyển sinh năm sau, nhiều trường sẽ phải xoá sổ các ngành học này vì tuyển sinh triền miên không đủ chỉ tiêu.

Lý do ế ẩm của khối ngành Ngoại ngữ được lý giải vì cơ hội việc làm của cử nhân khối ngành này ngày càng hạn chế. Đa số các nhà tuyển dụng hiện chỉ coi ngoại ngữ là phương tiện, kỹ năng chứ không phải một ngành chuyên môn, vì thế, các sinh viên tốt nghiệp các ngành Ngoại ngữ sẽ thiếu khả năng cạnh tranh so với các ngành khác. Hơn nữa, việc các trung tâm ngoại ngữ mở ra khắp nơi mang đến cơ hội rèn luyện ngoại ngữ phong phú hơn rất nhiều so với việc vào học tại trường.

 

4. Ngành "hot" và ngành hết "hot" trong tương lai:Top of ForBottom of Form

Một trong những vấn đề khiến nhiều bạn sinh viên hết sức quan tâm sau khi ra trường đó là tìm kiếm việc làm, để dễ có 1 việc làm ổn định với khả năng và sở thích của mình các bạn cần phải định hướng rõ ngay khi nạp hồ sơ thi đại học. 

Đa số thí sinh trúng tuyển ĐH, CĐ năm 2011 sẽ ra trường vào năm 2015. Việc chọn ngành,  nghề bên cạnh yếu tố năng lực, sở thích của thí sinh còn phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu của thị trường.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội vừa công bố báo cáo xu hướng việc làm Việt Nam năm 2010. Theo đó, dự báo nhiều ngành “nóng” hiện nay sẽ bị bão hòa vào năm 2015.

* Những ngành nào sẽ hết “nóng”?

Báo cáo xu hướng việc làm Việt Nam năm 2010 là báo cáo thường niên của Trung tâm Quốc gia dự báo và thông tin thị trường lao động thuộc Cục Việc làm, Bộ LĐTBXH thực hiện, với sự hỗ trợ kỹ thuật của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), thông qua Dự án thị trường lao động do Liên minh Châu Âu (EU) tài trợ. Báo cáo đã nêu bật những yếu tố tích cực đạt được gần đây của thị trường lao động, chỉ ra các xu hướng việc làm ảnh hưởng đến quyết định của các chuyên gia hoạch định chính sách và các nhà đầu tư, đồng thời chỉ ra những mục tiêu việc làm màViệt Nam đã đạt được.

Theo báo cáo, ngành chiếm nhiều lao động nhất ở Việt Nam là các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, với gần 23 triệu lao động trong năm 2008. Tuy nhiên, trong hầu hết các dự báo, việc làm trong ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản có chiều hướng giảm và sẽ ở mức 21,1 triệu lao động vào năm 2020.

Cũng theo báo cáo, nhiều ngành hiện có tỉ lệ việc làm rất cao nhưng lại có xu hướng giảm vào năm 2015, gồm: Khai khoáng, công nghiệp chế biến - chế tạo, sản xuất - phân phối điện, khí đốt, cung cấp nước, xây dựng, vận tải và kho bãi, khách sạn, nhà hàng, thông tin, truyền thông, giáo dục, y tế và hoạt động trợ giúp xã hội, nghệ thuật và vui chơi giải trí. Ngành có tỉ lệ giảm cao nhất là khai khoáng - từ 10,6% năm 2011 xuống còn 9,6% năm 2015.

Bên cạnh đó, đến năm 2015 có 9 ngành nghề sẽ tăng nhu cầu việc làm, gồm: Tài chính, ngân hàng và bảo hiểm; hoạt động kinh doanh bất động sản; hoạt động khoa học công nghệ; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ; hoạt động Đảng, đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội; hoạt động làm thuê trong các hộ gia đình; các tổ chức quốc tế và các hoạt động dịch vụ khác. Trong số các ngành này, ngành có nhu cầu việc làm tăng cao nhất là hoạt động Đảng, đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ... Tuy nhiên, những ngành này lại giảm mạnh - khoảng 50% việc làm, vào năm 2020. Trong năm này, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo sẽ tăng gấp đôi số việc làm - từ 1,2% lên 2,3%.

Như vậy, theo dự báo tại đây thì rất nhiều ngành nghề có nhu cầu việc làm cao vào giai đoạn này sẽ bị bão hòa vào năm 2015 và năm 2020. Thí sinh thi tuyển năm nay cần cân nhắc những thông tin tham khảo này khi chọn nghề, chọn ngành để dự thi.

 

5. Con đường đại học không phải là tất cả:

Trong khi khoảng 400.000 thí sinh có điểm thi đại học, cao đẳng (ĐH, CĐ) trên mức điểm sàn do Bộ GD-ĐT công bố đang háo hức và hy vọng bước vào ngưỡng cửa giảng đường thì có khoảng 700.000 thí sinh phải ngậm ngùi rời bỏ cuộc đua xét tuyển.

Lựa chọn con đường vào ĐH, CĐ không phải là con đường duy nhất, thế mà mỗi mùa tuyển sinh ĐH, CĐ lại có trên một triệu bạn trẻ lại lựa chọn con đường “duy nhất” đó.

Trên nửa triệu thí sinh không thể chen chân, làm lãng phí tiền của cha mẹ, lãng phí thời gian, nguồn lực xã hội cho những năm tháng luyện thi, thi tuyển… biết bao nhiêu mà kể. Có người không phải một năm mà có đến cả ba thậm chí là bốn, năm năm theo đuổi “giấc mơ ĐH, CĐ”. Vì sao họ vẫn lựa chọn một thực tế khó khăn, xa vời như vậy? Không ít lần dư luận lý giải là vì sự thăng tiến phải dựa vào bằng cấp.

Người viết bài này từng đề xuất là cần nhanh chóng có một cuộc điều tra, thống kê, ghi nhận thực tế để tìm ra nguyên nhân vì sao những thí sinh biết rõ năng lực mình sẽ không thể thi đỗ vào ĐH, CĐ nhưng vẫn cứ tham gia thi tuyển. Rõ ràng, vấn đề không chỉ ở yếu tố “văn hóa bằng cấp”, mà đang có những lỗ hổng thật sự trong nhận thức của học sinh cuối cấp THPT về vấn đề thi cử.

Nghĩ rộng ra, các em thiếu sự định hướng cho con đường tương lai khi bước ra khỏi tuổi học trò, các em chưa nhìn thấy những con đường khác để đi, các em không đủ tự tin để quyết định từ chối con đường vào ĐH, CĐ. Đổ lỗi cho các em sẽ là điều chưa thuyết phục, người lớn phải xem đó là trách nhiệm, thế nhưng, ai gánh vác điều này ?             Hàng năm, cứ đến mùa tuyển sinh lại ồ ạt các buổi tư vấn. Nhưng nội dung các cuộc tư vấn tuyển sinh đó đa phần hướng các em vào con đường ĐH, CĐ chứ ít có vạch cho học sinh tìm kiếm những con đường khác để lựa chọn. Những nhà hoạch định chiến lược giáo dục nước ta cần phải nghiên cứu, tìm hiểu và đưa ra những giải pháp góp phần tránh lãng phí.

Là cha mẹ, mỗi người đều phải đánh giá lực học của con mình để góp phần phân tích, lựa chọn. Học sinh, hơn ai hết, phải tự biết năng lực thật sự, để tìm hướng đi tốt nhất cho cuộc đời mình.  

* Trượt đại học: Học nghề, trung cấp - lối ra khả quan.

Chọn học nghề, học trung cấp chuyên nghiệp sẽ là một lối ra khả thi đối với những thí sinh vẫn "trắng tay" sau 3 đợt xét tuyển vào đại học, cao đẳng. Bởi, ngoài việc dễ dàng nhận được việc làm ngay sau khi tốt nghiệp với mức thu nhập tương đối (từ 2,5 - 5 triệu đồng/tháng), thì với những TS đi theo con đường học nghề vẫn có cơ hội khẳng định mình ở các bậc học cao hơn như CĐ và ĐH, thậm chí là đi học liên thông ở nước ngoài...

Gần nửa triệu chỗ học trung cấp chuyên nghiệp

Những năm gần đây, mỗi năm có trên 1 triệu thí sinh (TS) dự thi ĐH, CĐ có khoảng 20% trúng tuyển vào ĐH, 20% trúng tuyển vào CĐ. Sẽ có trên 50% không trúng tuyển. Thời điểm nhận hồ sơ xét tuyển vào trường nghề cũng khá thuận lợi với các TS  đã "rớt" tất cả 3 nguyện vọng (NV), đa số trường bắt đầu từ đầu tháng 10 và kéo dài đến hết tuần đầu tháng 11.

Ngoài hệ thống các trường CĐ nghề, những TS có sức học đạt mức  "cận sàn" theo tiêu chuẩn của Bộ GDDT cũng sẽ dễ dàng tìm được một chỗ học tại các trường trung cấp chuyên nghiệp (TCCN). Theo Vụ Giáo dục chuyên nghiệp - Bộ GDĐT thì năm 2009, chỉ tiêu tuyển sinh vào TCCN là 460.799, tăng gần 10% so với năm 2008. Cả nước có 53 cơ sở đào tạo trình độ TCCN, bao gồm các trường TCCN và các trường ĐH, CĐ có đào tạo hệ này.

Theo ông Phạm Như Nghệ - Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp thì sự phân biệt giữa học TCCN và học nghề đó là: TCCN và dạy nghề đều thuộc giáo dục nghề nghiệp trong hệ thống giáo dục quốc dân. TCCN nhằm đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng thực hành cơ bản của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và có tính sáng tạo, ứng dụng công nghệ vào công việc. Dạy nghề nhằm đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ, có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo.

Nhu cầu về nhân lực trình độ TCCN của các doanh nghiệp ngày càng gia tăng. Nhiều học sinh TCCN ra trường có thể kiếm được việc làm với thu nhập khá; trong đó, một số ngành có nhu cầu nhân lực trình độ TCCN lớn và nhu cầu người học cũng tăng như các ngành đào tạo thuộc các lĩnh vực hấp dẫn. Theo thống kê từ Vụ Giáo dục chuyên nghiệp thì những năm gần đây, những lĩnh vực đông học sinh đăng ký vào học TCCN là y tế, du lịch - dịch vụ, tài chính - ngân hàng - kế toán, sư phạm, giao thông - xây dựng, cơ khí, điện - điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ may và thời trang, công nghệ chế biến...

* Đường vòng lên CĐ, ĐH.

Một lợi thế cho học sinh theo học tại các trường TCCN thuộc hệ thống quản lý của Bộ GDDT là sẽ có cơ hội học liên thông lên các bậc học cao hơn. Được công nhận, chuyển đổi kết quả học tập ở trình độ TCCN nên thời gian học sẽ ngắn hơn so với học sinh tốt nghiệp THPT khi vào CĐ, ĐH. Thời gian học liên thông lên CĐ sẽ từ 1,5 - 2 năm, lên ĐH sẽ từ 2,5 - 4 năm, tùy ngành.

Để liên thông lên CĐ, người tốt nghiệp TCCN loại khá trở lên được tham gia dự tuyển ngay sau khi tốt nghiệp, người tốt nghiệp loại trung bình phải có ít nhất 1 năm làm việc gắn với chuyên môn được đào tạo mới được dự tuyển. Để liên thông lên ĐH, người tốt nghiệp TCCN phải có ít nhất 3 năm làm việc gắn với chuyên môn được đào tạo thì được tham gia dự tuyển.

Một số trường ĐH, CĐ đang thực hiện đào tạo liên thông với hệ trung cấp là Trường ĐH Sài Gòn, ĐH Lạc Hồng đang thực hiện chương trình liên thông lên ĐH ở các ngành như kế toán, tin học. Các trường ĐH Bình Dương, ĐH Tôn Đức Thắng, ĐH Tài chính Marketing cũng đang triển khai đào tạo liên thông mốt số ngành "hot" như kế toán, tài chính và du lịch...

Ngoài ra, theo nhận định của đại diện của một số trường nghề như CĐ Nghề TPHCM, CĐ Nghề Việt Mỹ hoặc Trường TCCN Kỹ thuật nghiệp vụ Tôn Đức Thắng... thì HS sau khi tốt nghiệp hệ TCCN hoặc CĐ nghề, ngoài cơ hội theo học liên thông tại những trường ĐH, CĐ trong nước mà còn có điều kiện để theo học một số chương trình liên thông tại nước ngoài, theo những ngành nghề mà các trường có thực hiện  liên kết với những đối tác nước ngoài.

 

            6. Trong mùa tuyển sinh năm 2011, nhiều trường đại học có tỷ lệ “chọi” chỉ 1/3 hay 1/4 nhưng có điểm chuẩn lại cao, lên tới 26 điểm:

            * Hồ sơ đăng ký không nhiều

            Theo thống kê của Đại học (ĐH) Ngoại thương, năm 2011, tổng số hồ sơ đăng ký dự thi vào cơ sở 1 là 8.700 bộ, tăng 200 bộ so với năm 2010. Trong đó, hồ sơ thi ĐH khối D nhỉnh hơn khối A, tỷ lệ "chọi" là 1/3,5 (năm 2010 tỉ lệ chọi chung vào trường là 1/2,8).

            Năm 2011, số hồ sơ đăng ký dự thi vào Trường ĐH Bách khoa Hà Nội là 16.000 (chỉ tiêu tuyển sinh 5.800), tỷ lệ "chọi" 1/2,7 (tương đương năm 2010).

Trường ĐH Dược nhận được 2.500 hồ sơ đăng ký dự thi năm 2011 và chỉ tiêu 550. Như vậy, tỷ lệ "chọi" là 1/4,5.

            Tương tự, tỷ lệ "chọi" vào Trường ĐH Kinh tế Quốc dân năm 2011 không tăng. Chỉ tiêu tuyển mới vào trường là 4.750 (chỉ tiêu năm 2010 là 4.000), lượng hồ sơ đăng ký dự thi là hơn 24.000 bộ (năm 2010 là 20.500 bộ ). Tỷ lệ "chọi" năm 2011 là 1/5.

Năm 2011, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội nhận khoảng gần 17.000 hồ sơ đăng ký dự thi, trong khi chỉ tiêu vào trường là 2.700. Như vậy, tỷ lệ “chọi” vào trường khoảng 1/6.

Học viện Ngân hàng năm 2011 có số hồ sơ đăng ký dự thi không tăng mà giảm từ 16.000 bộ năm 2010 xuống 14.000 bộ. Chỉ tiêu tuyển mới vào trường là 2.300. Như vậy, tỷ lệ chọi của trường là 1/6.

Học viện Tài chính, năm 2011 nhận được khoảng 16.000 hồ sơ đăng ký dự thi, chỉ tiêu được giao là 3.080. Tỷ lệ “chọi” vào học viện là 1/5,4. 

* Điểm chuẩn cao.

Năm 2011, trong khi số lượng hồ sơ đăng ký dự thi vào trường chỉ dưới 9.000 và tỷ lệ “chọi” vào dạng thấp so với các trường nhưng điểm chuẩn của ĐH Ngoại thương khá cao. Cụ thể, năm 2011, trường ĐH Ngoại thương tại cơ sở phía Bắc, có điểm chuẩn các ngành dao động từ 22-26 điểm.

Chuyên ngành Kinh tế đối ngoại có điểm chuẩn cao nhất với 26 điểm (khối A); Thương mại quốc tế điểm chuẩn: 24 (khối A) và 22 điểm (khối D1); Chuyên ngành Quản trị Kinh doanh cũng có điểm chuẩn khá cao, từ 22-24 điểm.

Chuyên ngành Tài chính Quốc tế điểm chuẩn khối A cũng lên tới 26 điểm, khối D1 là 24 điểm, khối D6 là 23 điểm; Chuyên ngành Đầu tư chứng khoáng 24 điểm (khối A), 22 điểm (khối D1); Chuyên ngành Ngân hàng 24 điểm (khối A) và 22 điểm (khối D1).

Các chuyên ngành Tiếng Pháp thương mại, Ngành Tiếng Trung thương mại, Ngành Tiếng Nhật, điểm chuẩn cũng 28-29 điểm.

Học viện Ngân hàng điểm chuẩn năm 2011 cũng khá cao. Điểm sàn vào Học viện khối A: 20,5 điểm; khối D: 20 điểm.

Riêng ngành Ngân hàng điểm chuẩn là 22,5; ngành Tài chính, Kế toán: 21; ngành Quản trị kinh doanh, Hệ thống thông tin quản lý: 20,5 điểm. Ngành Ngôn ngữ tiếng Anh: 20.

ĐK Kinh tế Quốc dân tuy có số lượng hồ sơ đăng ký không lớn, tỷ lệ “chọi” cũng không cao nhưng điểm chuẩn nhiều ngành của trường khá "khủng".

Cụ thể, điểm chuẩn cao nhất là ngành Kinh tế đầu tư (khối A), ngành Tài chính Ngân hàng khối A, D1 và Ngành Kế toán, điểm chuẩn đều ở mức 24,5 điểm.

Các ngành khác như Quản trị doanh nghiệp, Quản trị kinh doanh tổng hợp, Quản trị kinh doanh quốc tế điểm chuẩn là 22,5 điểm; Ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế và Quản lý công, Quản trị nhân lực, Thương mại quốc tế... đều ở mức 21 điểm.

Các ngành Luật, chuyên ngành Luật kinh doanh 20 điểm (khối A) và 19 điểm (khối D1); chuyên ngành Công nghệ thông tin 18 điểm; Ngành Ngôn ngữ Anh, chuyên ngành Tiếng Anh Thương mại điểm chuẩn 24,5 (khối D1).

Điểm chuẩn ĐH Bách Khoa Hà Nội năm 2011 ngành Kỹ thuật Điện, Điều khiển và Tự động hóa; Điện tử Viễn thông, Kỹ thuật y sinh, Công nghệ thông tin, Toán tin ứng dụng điểm chuẩn đều ở mức 21,5 điểm.

Các ngành Kinh tế và Quản lý; Cơ khí, Cơ điện tử, Kỹ thuật hàng không, Kỹ thuật tàu thủy, Kỹ thuật nhiệt lạnh là 19 điểm. Các ngành còn lại điểm chuẩn từ 17-19 điểm.

ĐH Sư phạm Hà Nội năm 2011 điểm chuẩn các ngành cũng khá cao như Sư phạm Toán học: 20 điểm, Sư phạm Hóa học: 19,5 điểm, Sư phạm Vật lý: 19 điểm, Sư phạm Lịch sử: 19,5 điểm, Sư phạm Địa Lý: 19 điểm (khối C), Sư phạm Sinh học: 20 điểm...

Điểm chuẩn của ĐH Dược năm 2011 vẫn giữ ở mức ổn định là 24 điểm.

Nhiều trường đại học có số lượng hồ sơ đăng ký dự thi không nhiều, tỷ lệ “chọi” thấp nhưng điểm chuẩn vào trường vẫn khá cao.

Học viện Ngoại giao năm 2011 có khoảng gần 3.000 hồ sơ đăng ký dự thi, chỉ tiêu của trường khoảng 450. Như vậy, tỷ lệ “chọi” vào trường là 1/7.

Trường ĐH Hà Nội có hơn 9.600 hồ sơ đăng ký năm 2011 trên tổng số 1.700 chỉ tiêu. Như vậy, tỷ lệ “chọi” vào trường khoảng 1/5,5.

Năm 2011, Học viện Báo chí Tuyên truyền nhận được 8.500 hồ sơ đăng ký dự thi. So với chỉ tiêu của trường 1.450, tỷ lệ “chọi” vào trường khoảng 1/5,5.

Năm 2011, ĐH Xây dựng nhận được hơn 12.000 hồ sơ, trong tổng số 2.800 chỉ tiêu. Tỷ lệ “chọi” vào trường sẽ là 1/4,4.

Trường ĐH Luật năm 2011 có trên 11.570 hồ sơ đăng ký dự thi (tổng số chỉ tiêu 1.800). Như vậy, tỷ lệ “chọi” vào trường khoảng 1/7.

Trường ĐH Giao thông Vận tải, năm 2011, nhận được 18.000 hồ sơ đăng ký dự thi, trong khi chỉ tiêu vào trường là 4.000. Tỷ lệ “chọi” vào trường khoảng 1/4,5.

* Điểm chuẩn cao

Dù tỷ lệ “chọi” vào Học viện Báo chí và Tuyên truyền năm 2011 không cao nhưng nhiều ngành của trường có điểm chuẩn cao so với các trường cùng ngành, cùng khối thi.

Cụ thể, điểm chuẩn năm 2011, ngành Quan hệ quốc tế, quan hệ công chúng, Quảng cáo có điểm chuẩn cao nhất là 22,5 (khối C) và 20 điểm (khối D1); ngành truyền hình (22 điểm khối C, 19 điểm khối D1) và Báo mạng điện tử (21,5 điểm khối C, 19 điểm khối D1).

Các ngành Quản lý kinh tế: 20,5 điểm (khối C) và 17,5 điểm (khối D1); Ngành Xuất bản 20,5 điểm (khối C) và 17,5 điểm (khối D1); Thông tin đối ngoại: 20,5 điểm (khối A) và 18,5 điểm (khối D1). Các ngành như Báo in, Báo phát thanh, Quản lý xã hội..., điểm chuẩn cũng từ 18-19 điểm.

Trường ĐH Luật Hà Nội năm 2011 điểm chuẩn không thấp. Khối A: 17,5; khối C: 20 điểm; khối D1: 18 điểm.

Học viện Ngoại giao năm 2011 có điểm chuẩn vào các ngành cũng khá cao, từ 19 đến 25 điểm. Cụ thể, ngành Quan hệ Quốc tế 21 điểm (khối D1) và 19 điểm (khối D3); Ngành Ngôn ngữ Anh, ngôn ngữ Pháp: 25 điểm; Ngành Kinh tế quốc tế (khối A): 20 điểm; Luật Quốc tế (khối D1, D3): 19 điểm; Ngành Truyền thông quốc tế (khối D1): 20,5 điểm.

Năm 2011, điểm chuẩn các ngành Khối A của ĐH Hà Nội khá cao. Cụ thể, ngành Quản trị kinh doanh: 20,5 điểm; Ngành kế toán: 20 điểm; Ngành Tài chính- Ngân hàng: 22,5 điểm.

Các ngành khối D điểm chuẩn cao như Ngành Quản trị kinh doanh: 27 điểm; Ngành Kế toán: 25,5 điểm; Ngành Tài chính- Ngân hàng: 28,5 điểm; ngành Ngôn ngữ Anh: 27 điểm. cángành khác dao động từ 21-26,5 điểm.

Năm 2011, ĐH Xây dựng công bố điểm chuẩn Ngành Kiến trúc khối V là 24,5 điểm; Các ngành Xây dựng Cầu dường, Công nghệ vật liệu xây dựng, Tin học, Cơ khí xây dựng, Kỹ thuật Trắc địa, Kinh tế xây dựng..., điểm chuẩn các ngành đều 18 điểm.

 

7.  Những ngành nghề dễ kiếm việc nhưng bị quên:

            * Kỹ thuật in: không phải là "phô tô"!

ThS Nguyễn Anh Đức - Trưởng phòng Công tác HS-SV Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM đưa ra hàng loạt kết quả khảo sát về tình hình việc làm sau tốt nghiệp của SV do trường đào tạo, qua đó cho thấy: những ngành học “ế đầu vào” đang có cơ hội việc làm rất lớn. Theo kết quả khảo sát từ tháng 7/2008 đến tháng 8/2010, tỷ lệ SV tốt nghiệp có việc làm dao động và tăng dần từ 71,18% đến 81,28%. Riêng đợt khảo sát vào đầu năm 2009 cho biết, SV tốt nghiệp có việc làm của ngành kỹ thuật in lên đến 89% và ngành kỹ thuật nhiệt - điện lạnh là 82%. Mức lương của kỹ sư mới ra trường đã đạt 4-5 triệu đồng/tháng. Thế nhưng đầu vào của hai ngành này rất “bèo bọt”, thậm chí số đăng ký dự thi thấp hơn chỉ tiêu tuyển sinh, điểm chuẩn thấp (kỹ thuật in: 14 điểm, kỹ thuật nhiệt - điện lạnh: 13 điểm).

            Theo ThS Nguyễn Long Giang - Phó trưởng khoa Kỹ thuật in và truyền thông trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM, khả năng đào tạo của khoa là từ 160-200 chỉ tiêu/năm, nhưng hàng năm chỉ tuyển được khoảng 100-120 SV; riêng hai năm qua chỉ tuyển được 80 SV mỗi năm. Sở dĩ có tình trạng này là do nhiều người chưa có thông tin đầy đủ, chính xác về các ngành học này. “Một số SV trúng tuyển vào trường cho chúng tôi biết, họ rất mơ hồ về ngành học và chỉ hiểu đơn giản học ngành in là học photocopy, chứ không biết đây là ngành học mang tính tổng hợp từ các ngành hóa học, mỹ thuật và các ngành công nghệ khác. Giảng viên của khoa không chỉ là những chuyên gia về in mà còn có cả những họa sĩ tạo mẫu. SV sẽ được đào tạo các công nghệ về in lụa, in offset, in ống đồng, in flexo, nói nôm na là in trên tất cả các loại vật liệu. Ngành kỹ thuật in có ba chuyên ngành là chế bản, in và thành phẩm, hai chuyên ngành chế bản và thành phẩm đặc biệt phù hợp với nữ” - ThS Giang cho biết.

            ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM từ lâu là địa chỉ duy nhất đào tạo ngành kỹ thuật in (gần đây phía Bắc có ĐH Bách khoa Hà Nội). Sự ra đời của ngành này (năm 1997) cũng là để giải quyết những bức xúc của các nhà máy in lớn như Liksin, Trần Phú, Quân Đội… thời đó, nên từ lâu trường có mối quan hệ tốt với nhiều cơ sở in và có nhiều thuận lợi gửi SV đi thực tập. Gần đây nhà trường cũng đã đầu tư những trang thiết bị hiện đại cho ngành đào tạo này làm cho việc học và hành của SV càng thêm thuận lợi, SV tốt nghiệp có thể bắt tay ngay vào công việc.

            * Nhiệt - điện lạnh: đảm bảo không thất nghiệp.

            Tương tự ngành kỹ thuật in, kỹ thuật nhiệt - điện lạnh cũng là ngành mà thị trường lao động đang rất cần. ThS Hoàng An Quốc - Phó khoa Kỹ thuật nhiệt - điện lạnh Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật cho biết: SV ngành này sẽ được học thiết kế và chế tạo các hệ thống lạnh, điều hòa không khí, sấy, lò hơi cho các ngành công nghiệp, vận hành hệ thống nhà máy nhiệt điện, đặc biệt sẽ được học chuyên sâu về công nghệ nhiệt, công nghệ lạnh và điều hòa không khí. “Cơ hội việc làm là rất lớn và càng lớn khi các ngành công nghiệp của đất nước đang phát triển như nhiệt điện, điện lạnh, xây dựng, chế biến xuất nhập khẩu thủy hải sản. Không kể các công ty chuyên về nhiệt và điện lạnh lớn thì trên mỗi tòa cao ốc, giàn khoan, trên các con tàu… đều cần kỹ sư điện và nhiệt lạnh. SV đang học năm thứ 4, trong quá trình thực tập đã được các công ty nhận vào làm việc. Chúng tôi đảm bảo không có một SV nào tốt nghiệp mà bị thất nghiệp!” - ThS Quốc cho biết.

            Kỹ sư Nguyễn Bảo Trung - Giám đốc Công ty cổ phần năng lượng và kỹ thuật lạnh Nam Việt, cựu SV Khoa Kỹ thuật nhiệt và điện lạnh Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật - cũng cho biết thêm: cơ hội việc làm cho kỹ sư nhiệt và điện lạnh hiện rất rộng mở. Lương khởi điểm cho kỹ sư mới ra trường hiện từ 4,5 triệu đồng/tháng trở lên.

            * Điều khiển tàu biển: lương "ngàn đô"!

            Ở Trường ĐH Giao thông vận tải TP.HCM (tiền thân là cơ sở 2 Trường ĐH Hàng hải) cũng có nhiều ngành học “ế đầu vào”, nhưng ít thu hút thí sinh nhất (điểm chuẩn năm 2010 là 13 điểm) là ngành điều khiển tàu biển. Tại sao một ngành học rất “hot” trước năm 1985 bây giờ lại rơi vào “thoái trào”? Thuyền trưởng Lê Văn Ty - Trưởng khoa Điều khiển tàu biển, lý giải: “Có lẽ nhiều người nghĩ nghề đi biển nguy hiểm nên không muốn cho con theo học, nhất là hiện nay mỗi gia đình chỉ có một-hai con”. Song, sự thú vị của nghề này, theo thuyền trưởng Ty thì không có nghề nào bằng. Đó là được đi và tiếp xúc nhiều với thế giới bên ngoài, được làm việc trong một môi trường trong sạch, thoáng đãng…

            Mức lương của ngành này hiện khá cao. Thuyền trưởng người Việt Nam có mức lương trung bình là 7.000USD/tháng. Các sĩ quan trên tàu cũng được trả từ 40-60 triệu đồng/tháng. Sau khi tốt nghiệp từ 5-6 năm, SV có thể trở thành thuyền trưởng với lộ trình như sau: sau một năm đi biển trở về sẽ thi sĩ quan vận hành, đi biển thêm hai năm sẽ thi sĩ quan quản lý. Sau đó một thời gian, tùy thuộc vào yêu cầu sử dụng sẽ được xét làm thuyền trưởng. Các yếu tố quan trọng để trở thành thuyền trưởng là: giỏi tiếng Anh, làm việc mẫn cán và sức khỏe tốt. Thuyền trưởng Ty khuyên: những thí sinh có học lực khá, thích được ngao du, hãy mạnh dạn thi vào ngành học này.

            Ngoài ra, trong kỳ tuyển sinh 2011 sắp tới, lần đầu tiên ngành học này tuyển nữ. Trên thế giới, nữ giới làm thuyền trưởng các con tàu lớn hoặc làm cảnh sát biển là rất bình thường. Tuy nhiên, học ngành này còn có rất nhiều công việc trên đất liền như các hoạt động hoa tiêu, cảng vụ, đăng kiểm, giám định hàng hải, bảo hiểm hàng hải, hải quan…

            * Công nghệ sau thu hoạch: không bao giờ thiếu việc

            Một ngành học khác có vẻ không hấp dẫn lắm về tên gọi nhưng cơ hội việc làm cũng lớn là ngành công nghệ sau thu hoạch (hiện có hai đơn vị đào tạo là ĐH Hùng Vương TP.HCM và ĐH Đà Lạt). ThS Nguyễn Thị Mai Bình - Trưởng phòng Đào tạo Trường ĐH Hùng Vương trăn trở: “Tình hình tuyển sinh của ngành này trong hai năm qua là rất khó khăn. Năm 2008 trường tuyển được 100 SV, nhưng đến năm 2009 chỉ tuyển được 17 SV,  năm 2010 tuyển được 18 SV dù điểm tuyển chỉ bằng điểm sàn (13 điểm)”.

            Tiến sĩ Lê Văn Thọ - Trưởng khoa Công nghệ sau thu hoạch, Trường ĐH Hùng Vương phân tích: “Có ba khâu quan trọng sau thu hoạch nông sản thực phẩm là kiểm tra giám định, bảo quản và chế biến. Hiện các kỹ thuật, công nghệ về các lĩnh vực này ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, vì vậy mà tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch rất cao: lúa gạo hao hụt 15 - 20%, rau củ quả hao hụt 18 - 20%. Kỹ sư ngành công nghệ sau thu hoạch sẽ giúp bà con nông dân và các cơ sở sản xuất, kinh doanh ngành hàng này giảm bớt tỷ lệ thất thoát".

            Về cơ hội việc làm của SV ngành công nghệ sau thu hoạch, ông Thọ nói: “Không bao giờ thiếu việc. Trường đã có ba khóa tốt nghiệp, tất cả đều có việc làm. Không kể các tỉnh xa, chỉ riêng TP.HCM và những tỉnh lân cận hiện đã có hàng ngàn xí nghiệp bảo quản - chế biến và xuất khẩu nông sản thực phẩm, đơn vị nào cũng cần cán bộ kiểm tra chất lượng sản phẩm, cán bộ làm công tác bảo quản và chế biến nhằm đa dạng và nâng cao giá trị sản phẩm”. Bạn Tăng Vĩ Quyền - một kỹ sư vừa tốt nghiệp ngành này, đang làm cán bộ giám sát sản xuất tại Công ty CP Long Sơn (chuyên chế biến xuất khẩu hạt điều), cho hay: khóa của bạn tốt nghiệp tháng 9/2010, đến nay hầu hết đã có việc làm. Một vài bạn chưa đi làm là vì còn có những dự tính khác

–––––––––––––––––––––––––––––––

 

 

PHẦN 3:

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NINH

 

PHẦN 4

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

TỈNH QUẢNG NINH ĐẾN 2020

 

Ngày 24/11/2006 Thủ Tướng chính phủ đã phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Quảng Ninh đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.

I. Quan điểm phát triển.

1. Xây dựng tỉnh Quảng Ninh trở thành một địa bàn động lực, một trong những cửa ngõ giao thông quan trọng của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ  đối với khu vực và Quốc tế, một  khu vực phát triển năng động của kinh tế ven biển và biển, có tốc độ tăng trưởng cao và bền vững; có thế và lực ngày càng lớn thúc đẩy sự phát triển và khả năng cạnh tranh.

2. Phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, kinh tế hướng mạnh về xuất khẩu. Nhanh chóng chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng các ngành công nghiệp và dich vụ, đặc biệt là các ngành kinh tế giữ vai trò chủ đạo của Tỉnh. Phát huy tối đa thế mạnh về du lịch, giải quyết hài hoà giữa phát triển du lịch với các lĩnh vực khác; trong đó, ưu tiên phát triển du lịch, phải giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường. Coi trọng hàng đầu việc xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, tích cực chuẩn bị tốt tiền đề để phát triển nhanh và bền vững hơn sau năm 2010.

3. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá xã hội, xoá đói giảm nghèo, thúc đẩy tiến bộ và thực hiện công bằng xã hội đặc biệt chu ý đến vùng núi hải đảo và vùng đồng bào dân tộc ít người tru?c hết là nâng cao dân trí và mức sống vật chất tinh tần của nhân dân.

4. Điều chỉnh và cải thiện việc tổ chức kinh tế theo lãnh thổ. Kết hợp giữa phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ dải ven biển Hạ Long ở tiểu vùng phía Tây của Tỉnh vơi phát triển nông,lâm nghiệp,công nghiệp chế biến, dịch vụ của tiểu vùng phía Đông của Tỉnh và khu vực miền núi; giữa phát triển đô thị với phát triển nông thôn tạo điều kiện cho các vùng phát triển hạn chế chênh lệch khá xa về nhịp độ tăng trưởng giữa các vùng.

5. Kết hợp giữa phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên môi trường bảo đảm phát triển bền vững. Phát triển kinh tế phải bảo đảm tăng cường và củng cố quốc phòng, an ninh; đặc biệt chú trọng giữ vững chủ quyền vùng biển, đảo và thềm lục địa về quyền lợi kinh tế, giữ vững chủ quyên quốc gia.

II. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN

Từ nay đến năm 2020, phát triển có trọng tâm, trọng điểm, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả để thực hiện công nghiệp hoá trước năm 2020.

- Tốc độ tăng trưởng GDP thời kỳ 2006-2010 đạt khoảng 13% thời kỳ 2011-2020 khoảng14,2%. GDP bình quân đầu người vào năm 2010 (giá so sánh năm 1994) đạt 950 USD, năm 2020đạt trên 3.120 USD.

- Tỷ lệ tích luỹ đầu tư lên 40% so với GDP vào năm 2010, đáp ứng 75% nhu cầu vốn đầu tư phát triển.

- Thực hiện tốt công tác xoá đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm phát triển y tế, giáo dục -đào tạo, văn hoá thể dục- thể thao v.v..

Một số chỉ tiêu cơ bản:  

TT

Loại chỉ tiêu

Năm 2005

Năm 2010

Năm2020

1

Dân số(nghìn người)

1.069,9

1.124,1

1.237,3

2

GDP( tỷ đồng)

 

 

 

 

- Theo giá so sánh 1994

6.229,2

11.375,2

43.065,1

 

-Theo giá hiện hành

15.346,0

36.341,3

167.405,0

3

Cơ cấu GDP(%- giá hiện hành)

100,0

100,0

100,0

 

-Công nghiệp, xây dựng

49,7

46,3

48,5

 

Dịch vụ

44,0

49,7

50,1

 

-Nông,lâmnghiệp,thuỷ sản

6,2

4,0

1,4

4

GDP/người(USD)

 

 

 

 

-Theo giá so sánh 1994

352,9

950,0

3.127,8

 

-Theo giá hiện hành

869,3

1.757,1

6.292,7

Tốc độ tăng trưởng (%) 

TT

Loại chỉ tiêu

Thời kỳ

Năm 2006-2010

Năm 2001-2010

Năm 2011-2020

1

Dân số

-

1.02

0,96

2

GDP

13,3

13,0

14,2

 

-Công nghiệp,xây dựng

15,0

13,8

14,3

 

-Dịch vụ

12,0

13,3

14,7

 

-Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản

4,0

4,2

 

 

 

 

III. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH VÀ LĨNH VỰC

1. Công nghiệp.

Phát triển các ngành công nghiệp có thế mạnh như: khai thác than, điện, vật liệu xây dựng, cơ khí mỏ, cơ khí đóng tàu, công nghiệp phục vụ du lịch..Xõy dựng và phát triển các khu, cụm công nghiệp tập trung. Phát triển công nghiệp quy mô nhỏ ở nông thôn và miền núi.Đổi mới thiết bị, công nghệ hiện đại; tiếp nhận vốn và chuyển giao công nghệ tiên tiến từ bên ngoài. Giải quyết tốt các mâu thuẫn giữa phát triển công nghiêp, phát triển dịch vụ du lịch và bảo vệ môi trường sinh thái.

a. Công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản:

-  Khai thác chế biến than: năm 2010,sản lượng than đạt 39-41 triệu tấn/năm; năm 2020 đạt 50 triệu tấn/ năm;

- Khai thác và chế biến các khoáng sản khác như: sét, cao lanh, cát đá...

b. Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng:

Xây dựng mới các nhà máy xi măng lò quay có công nghệ tiên tiến và hiện đại  ở khu vực Hoành Bồ(tổng công xuất 4 triệu tấn/ năm, sau đó nâng lên 6 triệu tấn/ năm). Liên doanh cung cấp clinker cho các trạm nghiền clinker ở vùng Nam Trung Bộ và vùng Đông Nam Bộ. Xây dựng nhà máy bao bì xi măng. Mở rộng và xây dựng mới các trạm trộn bê tông

Đầu tư dây chuyền sản suất gạch không nung; nâng tỷ lệ gạch không nung trong cơ cấu vật liệu xây dựng lên 13% vào năm 2011 và 30% vào năm 2020. Xây dựng nhà máy gạch lát cerami, gạch tuynel, các cơ sở sản xuất đá ốp lát, ván ép.

c. công nghiệp đóng tàu,cơ khí chế tạo:

Phát triển và hiện đại hoá nghành cơ khí mỏ, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu thuyền đến 50.000 tấn.

d. Công nghiệp luyện kim:

Đầu tư xây dưng nhà máy chế tạo phôi, cán thép, thép tấm quy mô vừa để cung cấp nguyên liệu. Nghiên cứu đầu tư đồng bộ theo các bước đi thích hợp cho các cơ sở công nghiệp luyện kim. Thúc đẩy đầu tư cơ sở sản xuất thép ở khu vực Việt Hưng – Cái Lân.

đ. Công nghiệp chế biến nông sản, thuỷ sản, thực phẩm và đồ uống:

Ưu tiên đối mới thiết bị , công nghiệp; chuyển từ xuất khẩu nguyên liệu sang chế biến các sản phẩm có chất lượng cao phục vụ đời sống nhân dân, xuất khẩu và du lịch.Đầu tư nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới các nhà máy, cơ sở sản xuất, chế biến, nuôi trồng thuỷ sản, hoa quả, thực phẩm và đồ uống.

e. Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng:

Tập trung phát triển các ngành dệt, da, may, gốm sứ, thuỷ tinh.

g. Phát triển các ngành công nghiệp khác:

Công nghiệp điện, sản xuất phân đạm, than sinh hoạt, liên doanh sản xuất, lắp ráp ô tô...

h. Phát triển tiểu, thủ công nghiệp.

i. Định hướng phát triển các khu,cụm công nghiệp:

Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các khu, cụm công nghiệp hiện có; nghiên cứu thành lập một số khu, cụm công nghiệp gắn với khu kinh tế, khu du lịch như khu công nghiệp (KCN): Cái Lân, Việt Hưng,Đồng Mai, Hải Yên,Ninh Dương, Chạp Khê, Phương Nam, Tiên Yên, Kim Sen và KCN sạch thuộc khu kinh tế tổng hợp Vân Đồn, nghiên cứu thành lập một số khu công nghệ; cụm công nghiệp Đông Triều và một số cụm công nghiệp khác trên hành lang đường 18A.

2. Du lịch.

Đến năm 2010, sẽ thu hút khoảng 6.8triệu lượt khách du lịch( trong đó từ 2.5-3 triệu lượt khách quốc tế) và tăng gấp 1.5 lần vào năm 2020. Phấn đấu doanh thu đạt 3.000 tỷ vào năm 2010 và trên 5.000 tỷ đồng vào năm 2020.

Tập trung phát triển 4 khu du lịch chính là : Hạ Long, Vân Đồn, Móng Cái-Trà Cổ, Uông Bí- Đông Triều- Yên Hưng thành trung tâm du lịch lớn tương ứng với vị thế của Tỉnh có thu từ du lịch chiếm tỉ trọng cao, bền vững trong cơ cấu GDP. Tổ chức các tuyến du lịch trong tỉnh, ngoài tỉnh và du lịch nước ngoài.

Chú trọng phát triển các sản phẩm du lịch có chất lượng cao và các sản phẩm du lịch bổ trợ, sản phẩm lưu niệm thủ công mỹ nghệ, ẩm thực.

3. Thương mại, xuất nhập khẩu các ngành dịch vụ khác.

Phát triển ngành thương mại nội địa; đẩy mạnh phát triển kinh tế cửa khẩu, xuất khẩu nhập khẩu và hoạt động kinh tế đối ngoại, phát triển các loại hình dịch vụ tài chính,ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin, phần mềm, dịch vụ vận tải, xây dựng ,tư vấn v.v... Tập trung xây dựng Hạ, Long Móng Cái thành các Trung tâm thương mại lớn của Tỉnh và Vùng đồng bằng sông Hồng.

4. Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản.

Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, đa dạng hoá sản phẩm và đa dạng hoá cơ cấu kinh tế nông thôn.Từng bước hình thành khu nông nghiệp công nghệ cao để tạo ra sản phẩm chất lượng và có sức cạnh tranh.

Về lâu dài, cây lương thực vẫn giữ vị trí đặc biệt quan trọng đối với an ninh lương thực, hướng chủ yếu là tập trung thâm canh, chuyển đổi cơ cấu diện tích cây trồng hợp lý. Phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày, cây thực phẩm. Phát triển mạnh chăn nuôi theo hướng công nghiệp hoá, từng bước trở thành nghành sản xuất chính, chiếm tỷ trọng trong nông nghiệp.

Phát triển lâm nghiệp toàn diện, chú trọng phát triển 3 loại rừng: Rừng đặc dụng, phòng hộ, sản xuất. Hình thành 2 vùng sản xuất lâm nghiệp: Vùng cây nguyên liệu gỗ cho sản xuất, xây dựng;vùng cây lâm nghiệp đặc sản ( quế, hồi, thông nhựa) cho xuất khẩu.Đến năm 2020, tỷ lệ độ che phủ của rừng toàn tỉnh đạt 50-55%. Phát triển lâm nghiệp phải thực hiện được mục tiêu xoá đói giảm nghèo; đời sống người lao động làm trong ngành lâm nghiệp (bảo vệ, khoanh nuôi, trồng rừng khai thác chế biến) ngày càng khá lên. Đẩy mạnh sản xuất lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá.

Phát triển thuỷ, hải sản trên quan điểm kết hợp hợp lý giữa khai thác, nuôi trồng và chế biến, chuyển từ xuất khẩu nguyên liệu sang chế biến xuất khẩu sản phẩm chất lượng cao; tạo ra số lượng hàng hoá lớn;đưa thuỷ, hải sản thành ngành kinh tế có vị trí xứng đáng trong ngành kinh tế của Tỉnh.

5. Kết cấu hạ tầng.

Xây dựng kết cấu hạ tầng phải bảo đảm cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của cả vùng; trong đó xây dựng hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế biển, Khu kinh tế tổng hợpVân Đồn và các khu kinh tế cửa khẩu là thực sự cần thiết. Ngoài các chương trình, dự án cụ thể đã được xác định, cần chú trọng nghiên cứu, xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển các mô hình kinh tế tổng hợp, liên hợp kiểu đặc khu như Khu kinh tế liên hợp đô thị, Khu công nghiệp, Khu công nghệ,khu du lịch; dịch vụ vận tải, hậu cần gắn liền với cảng biển...   

a.Giao thông vận tải

-  Đường bộ: nghiên cứu xây dựng đường vận chuyển và cảng than độc lập với đường và cảng dân sinh, tạo các vành đai  cách ly vùng khai thác than với khu dân cư,du lịch bằng thảm cây xanh gắn liền với đường bao, đường sắt chuyên dùng và các cảng một cách hợp lý.

+ Trên hành lang Đông – Tây chú trọng các tuyến sau: cải tạo và nâng cấp quốc lộ 18A đạt tiêu chuẩn cấp I; đoạn Đông Triều

- Móng Cái cấp II; xây dựng tuyến mới cao tốc Hà Nội - Hạ Long – Móng Cái. Cải tạo, nâng cấp tuyến quốc lộ 4B từ Lạng Sơn đi Mũi Chùa đạt tiêu chuẩn cấp II đồng bằng. Cùng với các tỉnh đồng bằng sông Hồng xây dựng đường ven biển từ Quảng Ninh - Hải Phòng – Ninh Bình – Thanh Hoá.

+ Trên hành lang Bắc – Nam, chú trọng các tuyến sau: cải tạo, nâng cấp quốc lộ 18C từ Tiên Yên đi cửa khẩu Hoành Mô, đường 340 Hải Hoà đến cửa khẩu Bắc Phong Sinh và quốc lộ 279 trong vành đai 2 đạt cấp III miền núi.

+ Cải tạo nâng cấp tuyến tỉnh lộ, huyện lộ kết nối với hệ thống đường quốc gia.Nâng cấp và xây mới các đường; 341;324;343;344.Đầu tư duy tu,bảo dưỡng các cầu đã có, xây dựng với hệ thống cầu chưa có trong các tuyến. Cải tạo,xây dựng các tuyến giao thông đô thị ở các thành phố,thị xã. Nâng cấp một số tuyến đường xã, liên xã thành đường huyện. Đầu tư xây dựng hệ thống đường ô tô đến tất cả các trung tâm xã. Chú ý tuyến dọc biên giới; từng bước xây dựng đường biên giới và hệ thống đường xương cá nối đường biên giới vào nội địa.

+ Chuẩn bị xây dựng cầu Vân Tiên và đường 18 dẫn qua đảo Cái Bầu ( Cẩm Phả- Vân Đồn – Tiên Yên ). Hoàn chỉnh hệ thống các bến xe liên tỉnh và nội tỉnh; phát triển giao thông liên tỉnh bằng xe buýt v.v...

 - Đường sắt: Xây dựng đoạn nối ga Hạ Long vào cảng Cái Lân.Nghiên cứu xây dựng mới tuyến đường sắt Yên Viên –Phả Lại nối vào ga Cổ Thành trên tuyến Kép- Cái Lân. Xây dựng hệ thống ga hành khách hợp lý trên dọc tuyến. Nghiên cứu xây dựng tuyến đường sắt Hạ long-Móng cái và tuyến nối với cửa khẩu Đồng Đăng- Lạng Sơn tạo thành hệ thống đường sắt liên hoàn.Xây dựng đường sắt chuyên dùng của ngành than khu vực Vàng Danh- Uông Bí ra cảng Điền Công; khu vực Cẩm Phả, Cửa Ông cần có đường bao cách ly với khu dân cư  hoặc đường ngầm phía dưới đường dân sinh.

- Hệ thống cảng biển: tập trung nâng cấp cảng Cái Lân cho tầu 4-5 vạn tấn vào ra thuận tiện, đạt công suất từ 7-8 triệu tấn/ năm vào năm 2010.Nâng cấp các cảng hiện có như cảng Cửa Ông( Cẩm Phả), Mũi Chùa( Tiên Yên), Vạn gia( Móng Cái), Hòn Nét, Con Ong( Vịnh Bái Tử Long).Nâng cấp cảng than Cẩm Phả cho tầu 4 vạn tấn vào ra thuận tiện, nghiên cứu xây dựng những  cảng than độc lập với cảng hàng hoá và cảng dịch vụ; tách biệt với khu dân cư, khu du lịch.Xây dựng cảng du lịch tại hạ Long.Chú trọng phát triển  các c?ng và b?n thuỷ nội địa, mở rộng các bến tầu nhỏ như Dân Tiến, Thọ Xuân, Đá Đỏ( Móng Cái), GềnhVõ(Hải Hà), Vạn Hoa( Vân Đồn)v.v... Nghiên cứu các điều kiện để có thể xây dựng cảng tổng hợp, kho xăng dầu tại khu Đầm nhà Mạc, Huyện Yên Hưng.

- Hàng Không: xây dựng sân bay tại Vân Đồn, dự kiến trước mắt sẽ đón khoảng từ 1-1,5 triệu lượt khách/ năm bằng loại máy bay tầm trung như A321, A320, B777-200 ...

b. Cấp điện.

Mở rộng Nhà máy nhiệt điện Uông Bí (Công suất700MW); xây dựng các nhà máy nhiệt điện Mạo Khê( công suất 200MW), Hà Khánh(Công suất1.200MW, giai đoạn 1 công suất 600MW, Mông Dương với tổng công suất 2.000MW, Cẩm Phả 600MW.

Xây dựng đường dây 220 KV đến Hạ Long, đường dây110KV mạch 2 đường 500 KV đến Hoành Mô và Mông Dương ra Móng Cái, các tuyến 35KV,22KV ra Bình Liêu, Hải Hà; mở rộng mạng lưới cấp điện cho khu kinh tế Vân đồn; nghiên cứu đưa điện lưới ra các đảo Minh Châu, Quan Lạn, Ngọc Vừng.Cải tạo và nâng cấp mạng lưới điện hiện có.Mở rộng mạng lưới cấp điện cho các khu công nghiệp mới hình thành, khu vực nông thôn và miền núi. Đến năm 2010,100% hộ có điện sử dụng.

c. Cấp, thoát nước.

Khai thác hợp lý các công trình cấp nước hiện có; mở rộng, nâng cấp và xây dựng mới một số công trình cấp nước phù hợp với quá trình phát triển như xây dựng nhà máy nước Việt Hưng công suất 20.000m3/ ngày đêm vào năm 2010 và cômh suất 80.000m3  vào năm 2020. Khai thác đập Đá Trắng( 10.000m3/ ngày đêm) cấp nước cho khu công nghiệp Việt Hưng, huyện Hoành Bồ. Mở rộng nhà máy nước Đông Triều( lên 4.000m3/ ngày đêm).Xây dựng mới nhà máy xử lý nước ngầm tại Vĩnh Tuy(4.000m3/ ngày đêm) và nhà máy xử lý nước sạch ( 12.000m3/ ngày đêm) cung cấp n?oc cho Mạo Khê, Hoàng Thạch . khai thác đập nước Đồng Ho (20.000m3/ ngày đêm).Xây dựng đập  Đồng Giang và sử dụng nước Hồ Yên Lập  đưa công suất lên 100.000m3/ ngày đêm cung cấp nước cho khu du lịch Bãi Cháy và các cụm công nghiệp tại Hoành Bồ. Xây dựng hồ Cao Vân để  đưa công suất nhà máy  nước Diễn Vọng lên 120.000m3/ ngày đêm  vào năm 2010. Nghiên cứu xây dựng đập Ba Chẽ. Xây dựng cụm xử lý từ hồ Tràng Vinh, và Đoan Tĩnh( 8.000m3/ ngày đêm) để đưa công suất cấp nước cho Móng Cái lên 12.000m3/ ngày đêm. Xây dựng các công trình cấp nước cho một số huyện như Ba Chẽ, Bình liêu, Đầm Hà, Hải Hà, Cô Tô ( từ 600-2.000m3 / ngày đêm).

Giảm tỷ lệ thất thoát nứơc  trong đô thị từ 55% xuống 20-25%. Thực hiện chương trình nước sạch nông thôn, đảm bảo đến năm 2020 có khoảng từ 95-100% số hộ nông  thôn được dùng nước sạch.

Quy hoạch và xây dựng đồng bộ hệ thống thoát nước, các khu chứa và sử lý nước thải, chất thải của các đô thị, các khu công nghiêp, khu du lịch bảo đảm giữ gìn môi trường sinh thái.

d. Thuỷ lợi.

Đầu tư nâng cấp hệ thống thuỷ lợi, đảm bảo cung cấp đủ nước tưới cho diện tích lúa và rau màu; giải quyết tiêu úng, chống lũ nhằm phòng, tránh thiên tai, góp phần bảo vệ sản xuất, tính mạng và tải sản của nhân dân.

đ. Bưu chính – Viễn thông.

Đẩy nhanh tốc d? phát triển mạng lưới Bưu chính – Viễn thông hiện đại, đồng bộ, rộng khắp; nâng cao chất lượng dich vụ bưu chính -viễn thông. Đến năm 2010 đạt 24 máy điện thoại /100 dân, bán kính phục vụ của các Bưu cục khoảng 2,3-2,4 km.

6. Phát triển nguồn  nhân lực và các vấn đề xã hội.

a. Phát triển dân số, nguồn lao động

Dự báo dân số, lao động đến năm 2020:

TT

Thành phần dân số, lao động

Tổng dân số theo chu kỳ

Dân số tăng thêm theo thời kỳ

Năm 2005

Năm 2010

Năm 2020

Năm 2006-2010

Năm 2011-2020

1

Tổng dân số (nghìn người)

1.070

1.124

1.23,7

54,0

113,0

- Dân số thành thị (nghìn người)

518,9

562,1

686,7

43,2

124,6

- Tỷ lệ so với số dân ( %)

48,5

50

55,5

 

 

2

Dân số trong độ tuổi lao động (nghìn người)

573,5

616,0

680,5

42,5

64,5

- Tỷ lệ so với dân số (%)

53,6

54,8

55,0

 

 

- Lao động cần bố trí việc làm (nghìn người)

574,7

566,7

639,7

42,0

73,0

Định hướng về công tác dân số và giải quyết việc làm:

Đẩy mạnh công tác dân số,nguồn nhân lực; nâng cao dân trí, mở rộng đào tạo nghề; tiếp tục thực hiện chương trình xoá đói, giảm nghèo.

Chuyển đổi cơ cấu  lao động theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp, dịch vụ. Phát triển doanh nghiệp, mở rộng ngành nghề tạo thêm việc làm.Xây dựng công bằng, dân chủ, văn minh.

b. Giáo dục và đào tạo

Giáo dục mầm non, phổ thông tỷ lệ trẻ em từ 3-5 tuổi đến lớp đạt 50%vào năm 2010 và 67% vào năm 2020. tỷ lệ học sinh tiểu học đạt 95% vào năm 2010 và 99% vào năm 2020; Trung học cơ sở phấn đấu đạt 90% vào năm 2010 và 95% vào năm 2020; trung học phổ thông đạt 50% vào năm 2010.

Củng cố đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý,đảm bảo về số lượng,nâng cao chất lượng giáo viên.Tăng cường cơ sở vật chất cho các trường học;100% số trường học được kiên cố hoá và đồng bộ hoá theo chuẩn vào năm 2010.

Nghiên cứu thành lập Đại học đa ngành; đầu tư nâng cấp, xây dựng một số trung tâm dậy nghề ở huyện theo hướng đa ngành; khuyến khích các tổ chức và cá nhân tham gia phát triển đào tạo nghề.

Thực hiện xã hội hoá giáo dục, nghiên cứu chính sách ưu đãi hợp lý đối với giáo viên khu vực biên giới, hải đảo, vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Có chính sách ưu đãi nhằm thu hút các chuyên gia và lao động kỹ thuật giỏi từ nơi khác đến làm việc tại Tỉnh.

c. Phát triển y tế.

Bảo đảm mọi người dân đều được hưởng các dịch vụ y tế chất lượng cao, được sống trong cộng đồng an toàn, phát triển tốt về thể chất và tinh thần, giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực tăng tuổi thọ. Nghiên cứu xây dựng một bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa nhi, phụ sản tại miền Đông của Tỉnh. Thực hiện có hiệu quả các mục tiêu của chương trình quốc gia  về phòng, chống bệnh xã hội và dịch bệnh nguy hiểm.

Củng cố và tăng cường cơ sở vật chất và  trang thiết bị cho hệ thống phòng, chống dịch, khám chữa bệnh từ cấp xã, phường đến tỉnh không ngừng đào tạo lại nhằm đảm bảo đủ các cơ cấu cán bộ đối với từng cán bộ trong ngành. Đến năm 2010, 100% số xã, phường có bác sĩ; 100% trạm y tế xã, phường có nữ hộ sinh trung học, có dược tá và y học cổ truyền; 100% thôn, bản có cán bộ y tế đã được đào tạo. Phấn đấu đạt trung bình có 4 bác sỹ và 1 dược sỹ đại học/10.000 dân.

Thực hiện xã hội hoá y tế, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ khám, chữa bệnh, tăng cường hoạt động tuyên truyền chăm sóc sức khoẻ ban đầu.

d. Văn hoá – Thông tin, Thể dục - Thể thao.

Đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá đạt mức trung bình của cả nước. Tăng cường các hoạt động văn hoá, thông tin ở vùng núi, ven biển biên giới, hải đảo. Đến năm 2010, 100% số xã, phường có làng văn hoá.Hoàn thành việc xây dựng các thiết chế văn hoá từ tỉnh đến cơ sở. Xây dựng các trung tâm văn hoá tỉnh, nhà bảo tàng tỉnh; xây dựng các trung tâm văn hoá thông tin ở các huyện, nhà văn hoá các xã. Bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá. Tích cực chuẩn bị để đề nghị công nhận Vịnh Bái Tử Long là di sản thiên nhiên thế giới. Phát triển các loại hình văn hoá, nghệ thuật. Xây dựng, bồi dưỡng lực lượng sáng tạo văn hoá, nghệ thuật.

Hiện đại hoá thư viện tỉnh; chú trọng phát triển xuất bản, in, phát hành sách, báo. Nghiên cứu khôi phục nhà xuất bản với 200 đầu sách/năm. Hoàn thiện hệ thống phủ sóng phát thanh- truyền hình trên địa bàn tỉnh; nghiên cứu và đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, cho phép thành lập xưởng phim truyền hình.

Phát động phong trào toàn dân tham gia thể dục, thể thao. Phát triển thể thao đỉnh cao, thể thao chuyên nghiệp, kết hợp với thể thao quần chúng và nghiệp dư. Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho ngành thể thao. Xây dựng trung tâm  thể thao của tỉnh và sân vận động ở các huyện.

đ. Đào tạo nguồn nhân lực.

Có kế hoạch đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý, khoa học kỹ thuật, công nhân kỹ thuật. Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề đạt tờ 30 – 35% vào năm 2010 và 35 – 40% vào năm 2020. Đa dạng hoá các loại hình đào tạo các nhà doanh nghiệp.

Xây dựng chương trình đào tạo công nhân kỹ thuật có tay nghề cao và hệ thống các trường, trung tâm đào tạo cán bộ công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển các khu công nghiệp, khu công nghệ trong vùng.

e. Khoa học – công nghệ.

Xây dựng quy hoạch phát triển khoa học và công nghệ trực tiếp sản xuất ( khoa học công nghệ doanh nghiệp và cơ sở sản xuất); trong đó, tập trung lập quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ trực tiếp sản xuất. Xác định rõ các chương trình, dự án then chốt, các giải pháp cụ thể. Cần có bước đi với các nhiệm vụ cụ thể giúp các ngành chức năng, các địa phương liên quan tổ chức thực hiện theo lộ trình để khoa học và công nghệ nhanh chóng phát triển trở thành  lực lượng trực tiếp sản xuất.

Tổ chức xây dựng và sớm đưa vào hoạt động các khu công nghệ cấp tỉnh (còn gọi là các “khu sinh dưỡng” công nghiệp, khu ươm tạo công nghệ, khu ươm tạo  doanh nghiệp, khu nông nghiệp công nghệ cao, khu công nghệ cao…) trở thành trụ cột cuả hệ thống hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ trực tiếp sản xuất.

Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích  phát triển khoa học công nghệ, sản phẩm công nghệ; trong đó, có cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển các khu công nghệ, sản phẩm công nghệ, đổi mới công nghệ và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ . Đặc biệt, ưu tiên khuyến khích các doanh nghiệp phát triển khoa học công nghệ trực tiếp sản xuất

g. Bảo vệ tài nguyên và môi trường

Đẩy mạnh việc sử dụng công nghệ sạch và phương tiện xử lý, ngăn ngừa ô nhiễm. Bảo vệ khu di sản thế giới Vịnh Hạ Long, bảo vệ sự đa dạng của sinh vật. Giảm thiếu ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường từ việc khai thác, chế biến và vận chuyển than, chống ô nhiễm công nghiệp, ô nhiễm do khai thác và vận tải biển. Có biện pháp thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn.

h. Quốc phòng, an ninh

Phát triển kinh tế - xã hội phải gắn liền với bảo đảm quốc phòng – an ninh trên từng địa bàn, đặc biệt là vùng biên giới, hải đảo. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, bảo đảm ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Xây dựng lực lượng dự bị động viên mạnh, khu vực phòng thủ vững chắc. Xây dựng và củng cố các địa bàn dân cư trên các đảo, đưa dân ra các đảo có khả năng sinh sống, góp phần giữ vững chủ quyền biển, đảo.

IV. ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

Dự báo đến năm 2010 sẽ huy động trên 85% và đến năm 2020 khoảng 90% quỹ đất vào sử dụng cho các mục đích khác nhau.

Cơ cấu sử dụng đất đến năm 2010: 

TT

Loại đất

Cơ cấu sử dụng

Hiện trạng 2005

Dự kiến 2010

1

Tổng diện tích đất tự nhiên

608,1

608,1

2

Tỷ lệ các loại đất (%)

100,0

100,0

3

Đất đã sử dụng (%)

72,2

85,9

a

Đất nông nghiệp (%)

59,3

71,5

 

Đất sản xuất nông nghiệp

8,9

10,6

 

Đất sản xuất lâm nghiệp

47,8

57,3

 

Đất nông nghiệp khác

3,0

3,6

b

Đất phi nông nghiệp (%)

12,9

14,4

 

Đất chuyên dùng

5,1

7,1

 

Đất ở

1,5

1,7

 

Đất khác

6,3

5,6

4

Đất chưa sử dụng(%)

27,8

14,1

Trên cơ sở định hướng quy hoạch sử dụng đất nêu trên; UBND tỉnh Quảng Ninh sẽ rà soát, đối chiếu với quy hoạch,có kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt có hiệu quả và trình cấp có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung khi cần thiết. IV. Định hướng tổ chức kinh tế theo không gian lãnh thổ.

- Phát triển trọng điểm trên từng khu vực kinh tế miền Tây và miền Đông của Tỉnh; phát triển khu kinh tế, các khu kinh tế cửa khẩu, các khu công nghiệp, một số khu công nghệ, các khu du lịch;phát triển kinh tế miền núi, hải đảo bao gồm:

Tiểu vùng phía Tây, với trung tâm là thành phố Hạ Long: ưu tiên phát triển công nghiệp khai thác than và các ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành than; phát triển các khu công nghiệp; phát triển dịch vụ cảng biển, dịch vụ chuyển giao công nghệ, phát triển du lịch; xây dựng hiện đại các đô thị như Hạ Long, Uông Bí, Cẩm Phả; phát triển các lĩnh vực xã hội.

Tiểu vùng phía Đông: Hình thành khu kinh tế tổng hợp Vân Đồn với việc phát triển du lịch, dịch vụ cao cấp; xây dựng cảng biển, cảng hàng không. Thúc đẩy phát triển mạnh Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái; nghiên cứu hình thành tổ hợp công nghiệp - dịch vụ - cảng biển tại phía Đông - Bắc tỉnh Quảng Ninh; xây dựng các khu kinh tế cửa khẩu Hoành Mô, Bắc Phong Sinh; phát triển kinh tế biển và hải đảo.

- Phát triển các lãnh thổ kinh tế trọng điểm, bao gồm: Các khu công nghiệp, các trung tâm du lịch, các khu kinh tế cửa khẩu, khu kinh tế  tổng hợp Vân Đồn.

- Phát triển đô thị: nghiên cứu nâng cấp thị xã Móng Cái lên đô thị loại II, thị trấn Cái Rồng lên đô thị loại III, các thị trấn huyện lỵ lên đô thị loại IV. Trong tương lai, Tỉnh sẽ có 2 đô thị loại II (Hạ Long, Móng Cái), 3 đô thị loại III ( Uông Bí, Cẩm Phả, Cái Rồng) và 4 đô thị loại IV là các thị trấn huyện lỵ.

- Phát triển các điểm dân cư nông thôn, kinh tế miền núi và hải đảo. 

 V.CÁC DỰ ÁN ƯU TIÊN NGHIÊN CỨU ĐẦU TƯ

1. Nhà máy gạch chịu lửa tại Hải Hà,Khu công nghiệp Việt Hưng;thời gian thực hiện: 2010-2015.

2. Nhà máy gạch trang trí tại Hạ Long;thời gian thực hiện:2010-2012

3. Nhà máy gạch granit tại Hải Hà;thời gian thực hiện:2010-2015   

4. Khai thác và chế biến đá tấn mài tại Hải Hà;thời gian thực hiện:2010-2015

5. Nhà máy sản xuất thuỷ tinh cao cấp tại Yên Hưng;thời gian thực hiện:2010-2015

6. Dây chuyền lắp ráp hàng điện tử,điện lạnh tại Cẩm Phả,Khu công nghiệp Đông Mai; thời gian thực hiện:2008-2010

7. Nhà máy sửa chữa và đóng tàu thuỷ tại Khu công nghiệp Cái Lân; thời gian thực hiện: 2006-2010

8. Nhà máy cơ khí lớn,thiết bị siêu trường ,siêu trọng tại Cẩm Phả; thời gian thực hiện: 2006-2010

9. Nhà máy sản xuất giầy xuất khẩu tại khu công nghiệp Việt Hưng, Đông Mai,Chạp khê;thời gian thực hiện:2008-2011

10. Nhà máy may xuất khẩu tại Khu công nghiệp Việt Hưng, Đông mai, Chạp Khê; thời gian thực hiện: 2006-2010

11. Nhà máy sản xuất phụ kiện ngành giầy dép và may mặc tại Khu Công nghiệp Việt Hưng,Đông Mai,Chạp khê;thời gian thực hiệ:2008-2010

12. Nhà máy chế biến rau quả tại Đông Triều 2.160 tấn /năm;thời gian thực hiệ: 2010-2015

13. Dây chuyền chế biến đồ ăn nóng giữa ca tại Khu công nghiệp Việt Hưng-Cái Lân,Hải Yên;thời gian thực hiện: 2010-2020

14. Dịch vụ vận tải hàng Container tại Hoành Bồ;thời gian thực hiện: 2010-2020

15. Nhà máy thiết bị cấp nước,lọc nước tại Khu công nghiệp Việt Hưng,Chạp Khê, Hải Yên, thời gian thực hiện: 2010-2015

16. Nhà máy sản xuất sơn tại Khu Công nghiệp Chạp Khê;thời gian thực hiện: 2010-2015

17. Nhà máy sản xuất sản phẩm sau tùng hương tại Uông Bí;thời gian thực hiện: 2010-2015

18. Nhà máy sản xuất đồ lưu niệm tại Khu công nghiệp Cái Lân;thời gian thực hiện: 2007-2010

19. Nhà náy sản xuất pin năng lượng mặt trời tại các khu công nghiệp;thời gian thực hiện: 2010-2015

20. Nhà máy sản văn phòng phẩm tại các Khu công nghiệp;thời gian thực hiện: 2010-2015

21. Nhà máy sản xuất đèn chiếu sáng tại các khu công nghiệp;thời gian thực hiện: 2011-2020

22. Nhà máy sản xuất đèn chiếu sáng trang trí tại các khu công nghiệp;thời gian thực hiện: 2011-2020

23. Nhà máy sản xuất thiết bị và trang phục thể dục-thể thao tại các khu công nghiệp;thời gian thực hiện:2010-2020

24. Nhà máy sản xuất túi sách-bao bì tại các khu công nghiệp;thời gian thực hiện: 2010-2020

25. Nhà máy sản xuất đồ dùng ăn uống một lần tai Khu công nghiệp Việt Hưng, Chạp Khê, Đông Mai;thời giang thực hiện:2007-2010

26. Nhà máy chế biến than tiêu dùng chất lượng cao tại khu công nghiệp Việt hưng; thời gian thực hiện:2010-2020

27. Nhà máy sản xuất phân vi sinh,phân hưu cơ tổng hợp từ rác sinh hoạt tại Cẩm Phả;thời gian thực hiện:2010-2015

2. Dịch vụ, Du lịch

28. Khu đô thị,du lịch sinh thái Hoàng Tân,tại Yên Hưng;thời gian thực hiện:2005-2010

29. Khu du lịch Bãi Dài,tại huyện Vân Đồn;thời gian thực hiện;2005-2010

30. Cảng tàu du lịch Hòn Gai,tại Hạ Long;thời gian thực hiện;2006-2010

31. Khu du lịch Trà Cổ và sân gôn Quốc Tế,tại Móng Cái;thời gian thực hiện: 2007-2012

32. Khu vui chơi bóng (Bowling) tại Hạ Long-Móng Cái;thời gian thực hiện: 2008-2015

33. Công viên giải trí tổng hợp và khu thể thao ngoài trời Hạ Long tại Đại Yên;thời gian thực hiện: 2008-2015

34. Công viên giải trí tổng hợp và khu thể thao ngoài trời Móng Cái`,tại Trà Cổ;thời gian thực hiện:2009-2015

35. Công viên nước,tại Hạ Long;thời gian thực hiện:2010-2020

36. Câu lạc bộ biển và săn bắn trên đảo,tại Hạ Long-Bái tử Long;thời gian thực hiện:2010-2020

37. Bệnh viện quốc tế Hạ Long,tại Hạ Long,t;thời gian thực hiện:2005-2010

38. Kách sạn Bến Đoan,tại Hạ Long;thời gian thực hiện:2008-2010

39. Khu du lịch đảo hòn gạc,tại Hạ Long;thời gian thực hiện:2008-2020

40. Khu du lịch đảo Ngọc Vừng,tại Vân Đồn;thời gian thực hiện:2006-2010

41. Khu nghỉ mát trên vịnh Hạ Long,tại Hạ Long-Cống Đông-Tây;thời gian thực hiện:2008-2015

42.Khu du lịch khe Chè tại Đông triều thời gian thực hiện:2008-2020

43.Khu resort ở đảo Ngọc Vừng tại Vân Đồn;thời gian thực hiện:2006-2015

44.Làng vă hoá chân núi Yên Tử tại Uông Bí;thời gian thực hiện:2007-2010

45.Trung tâm dưỡng lão quốc tế Quảng Ninh tại Yên Hưng-Hạ Long;thời giang thực hiện:2010-2020

46.Trường đào tạo nghiệp vụ du lịch tại Hạ Long;thời gian thực hiện:2010-2015

47.Trường đào tạo lao động kỹ thuật các nghề(kể cả du lịch)tại Hạ Long,Hoành Bồ;thời gian thực hiện:2010-2020

3.Cơ sở hạ tầng:

48.Đầu tư hạ tầng các khu công nghiệp và đô thị Chạp Khê-Dốc đỏ tại Uông Bí;thời gian thực hiện:2010-2020

49.Sân bay quốc tế tại Vân Đồn;thời gian thực hiện:2006-2015

50.Đường bộ cao tốc Mông Dương-Móng Cái thời gian thựchiện:2010-2015

51.Xây dựng cầu Vân Tiên tại Tiên Yên;thời gian thực hiện:2010-2015

52.Đường 18 mới qua đảo Cái Bầu tại Vân Đồn;thời gian thực hiện:2010-2020

4. Nông nghiệp:

53. Nuôi và chế biến tôm xuất khẩu tại Đầm Hà,Hải Hà,Tiên Yên;thời gian thực hiện:2006-2010

54.Chăn nuôi gia cầm,chế biến thịt xuất khẩu tại Đông Triều,Yên Hưng;thời gian thực hiện:2007-2012

55.Phát triển đàn cá giống và chế biến thịt xuất khẩu tại Đông Triều;thời gian thực hiện:2008-2010 56.Phát triển đàn vịt,chế biến thịt vịt tại Đông Triều,Yên Hưng;thời gian thực hiện:2010-2012

57.Trồng và chế biến Chè xuất khẩu tại Hải Hà;thời gian thực hiện:2007-2010

58.Trồng hoa điạ lan xuất khẩu tại Yên Hưng;thời gian thực hiện:2007-2008

59. Nuôi và chế biến hàu,bào ngư...xuất khẩu tại Tiên Yên,Hải Hà,Đầm Hà,Vân Đồn,Yên Hưng;thời gian thực hiện:2008-2010

60. Sản xuất tôm giống,sò tại Vân Đồn,Móng Cái;thời gian thực hiện;2008-2010

61.Nhà máy chế biến thức ăn nuôi trồng thuỷ sản;thời gian thực hiện:2008-2010

62. Nhà máy sản xuất các chế phẩm sinh học và thuốc thú y thuỷ sản tại Yên Hưng,Hoành Bồ;thời gian thực hiện:2010-2015

63.Trại sản xuất giống cá biến tại Vân Đồn; thời gian thực hiện: 2008-2010

64.Chăn nuôi bò và chế biến thịt bò xuất khẩu tại Đông Triều, Hải Hà, Yên Hưng; thời gian thực hiện:2010-2015

65.Nuôi bò sữa và chế biến bò sữa  tại Đông Triều,Yên Hưng;thời gian thực hiện:2007-2010

66.Trồng rừng và chế biến bột giấy tại Tiên Yên,Hải Hà,Đầm Hà;thời gian thực hiện:2008-2020

67.Trồng thông và nhà máy chế biến nhựa thông tại Uông Bí,Tiên Yên;thời gian thực hiện:2008-2020

68. Dây chuyền sản xuất đồ mộc gia dụng tại Uông Bí;thời gian thực hiện:2008-2010

––––––––––––––––––––––––––––––

 

PHẦN 5

NHU CẦU TUYỂN SINH CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG, TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP DẠY NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH:

 

Hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh có 33 cơ sở dạy nghề (gồm các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề, công ty có tham gia dạy nghề và các trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp có tham gia dạy nghề). Tham gia tổ chức đào tạo cho gần 70 nghề. Trong đó: Nhóm nghề khai thác mỏ hầm lo có 03 nghề; nhóm nghề vận hành thiết bị có 15 nghề; nhóm nghề cơ khí có 8 nghề;  nhóm nghề điện có 11 nghề; nhóm nghề xây dựng có 7 nghề; nhóm nghề Nông - Lâm - Ngư nghiệp có 9 nghề; nhóm nghề thủ công có 2 nghề, nhóm nghề du lịch, dịch vụ có 02 nghề và có10 nghề thuộc các lĩnh vực khác nhau như Tin học, kế toán, KCS...

Năm 2010, các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh có nhu cầu tuyển sinh trên 32.000 người. Trong đó:

- Dạy nghề theo chương trình mục tiêu (học sinh không phải đóng góp học phí) được nhà nước hỗ trợ kinh phí: Dạy nghề cho lao động nông thôn 1.100 người; dạy nghề cho người nghèo 1.000 người; dạy nghề cho người tàn tật 100 người.

- Dạy nghề trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề có chỉ tiêu tuyển sinh 12.000 người.

Dạy nghề trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên có chỉ tiêu tuyển sinh 18.000 người

 

I. NHU CẦU TUYỂN DỤNG LAO ĐỘNG CỦA CỦA DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH:

 Theo quản lý của ngành lao động, hiện nay trên địa bàn tỉnh có 4.406 doanh nghiệp đang hoạt động. Trong đó: doanh nghiệp nhà nước 140; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 116; doanh nghiệp ngoài quốc doanh 4.150 doanh nghiệp. Số lao động được tạo việc làm trong năm 2010 dự kiến trên 25.000 (25.200) người. Trong đó: Lĩnh vực Công nghiệp và Xây dựng 11.500 người; lĩnh vực Nông, Lâm, Ngư nghiệp là 3.700 người; Lĩnh vực Dịch vụ, Thương Mại 10.000 người.

Công tác xuất khẩu lao động năm 2010 dự kiến đưa khoảng 800 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.

* Các nghề đào tạo và hướng nghiệp cho thanh niên năm:

1- Các ngành nghề thu hút lao động là thanh niên học nghề thoát ly khỏi nông nghiệp chuyển thành lao động công nghiệp, dịch vụ gồm:

            - Nhóm khai thác: Khai thác mỏ hầm lò, cơ điện mỏ hầm lò, khoan nổ mìn.

            - Nhóm nghề vận hành: Vận hành máy xúc đá hầm lò, vận hành máy xúc lật, vận hành máy xúc thuỷ lực, máy thuỷ lực, vận hành tời trục, vận hành máy nâng, vận hành máy gạt, vận hành thiết bị mỏ hầm lò, vận hành thiết bị sàng tuyển, vận hành tàu điện, vận hành băng tải, lái xe ô tô, lái cẩu.

            - Nhóm nghề cơ khí: Hàn, chế tạo thiết bị cơ khí, lắp đặt thiết bị cơ khí, cơ khí nông thôn, cắt gọt KL, tiện, phay- bào, gò, đúc, lắp máy, vỏ tàu thuỷ.

            - Nhóm nghề sửa chữa: Công nghệ ô tô, sửa chữa ô tô, sửa chữa thiết bị lạnh.

            - Nhóm nghề điện: S­­ửa chữa điện mỏ, sửa chữa cơ điện mỏ hầm lò, điện công nghiệp, S­sửa chữa điện công nghiệp, điện dân dụng, điện tử dân dụng, điện nước, điện nông thôn.

            - Nhóm nghề xây dựng: Xây dựng dân dụng và mỏ, nề, bê tông, cốt thép- hàn, trắc địa công trình, dự toán xây dựng cơ bản, cấp thoát n­ước.

            - Nhóm nghề thủ công nghiệp: Sản xuất gốm thô, mài đá mỹ nghệ, thủ công mỹ nghệ (mây tre đan, móc sợi)

            - Nhóm nghề du lịch- dịch vụ: Kỹ thuật chế biến món ăn, kỹ thuật nấu ăn, Bàn- Buồng- Bar, hư­­ớng dẫn du lịch, kỹ năng giao tiếp, huấn luyện ca múa nhạc, Bảo tàng học, tiếng Trung du lịch

            - Nhóm nghề khác: Tin học văn phòng, Auto Cad, máy lái tàu sông, thuyền trư­­ởng, thuỷ thủ, kiểm tra chất l­ượng sản phẩm than, kế toán máy, kế toán doanh nghiệp, KT máy lạnh và điều hoà không khí, Quản lý HCNN và QLN, KCS, Giám định mớn nư­­ớc

 

            2- Dạy các nghề nông thôn, h­ướng việc làm tại chỗ cho thanh niên nông thôn vào các ngành nghề truyền thống phát triển kinh tế tại địa ph­ương, gia đình:

            - Dịch vụ- du lịch : kỹ thuật chế biến món ăn; kỹ thuật nấu ăn

            - Công nghiệp và xây dựng: Điện nông thôn; điện nước, nề, hàn, cơ khí nông thôn, sản xuất gốm xây dựng, gốm thô.

            - Thủ công mỹ nghệ:  Móc chỉ, móc sợi, mây tre đan

            - Nhóm nghề trồng trọt: Trồng và chăm sóc cây lúa lai, trồng và chăm sóc các loại hoa, trồng rau, thu hoạch, chế biến bảo quản nông- lâm- sản, trồng ngô lai, trồng khoai tây, trồng và chế biến rong riềng, trồng và chế biến chè, trồng và chăm sóc cây ăn quả

            - Nhóm nghề chăn nuôi gia súc gia cầm: Chăn nuôi phòng bệnh cho gà, vịt, ngan, ngỗng, chăn nuôi phòng bệnh trâu bò, lợn, dê, kỹ thuật thú y, nuôi ong lấy mật, nuôi nhím

            - Nhóm nghề nuôi trồng thuỷ sản: Nuôi tôm he chân trắng, tôm sú, nuôi nhuyễn thể (tu hài, vẹm xanh, hàu cửa sông, bào ng­­ư), nuôi cấy ngọc trai, nuôi tu hài, nuôi cá rô phi đơn tính, nuôi cá v­­ược, nuôi cá nư­ớc ngọt....

 

            3- Dự báo nhu cầu nhân lực qua đào tạo nghề năm  2010- 2015 của tỉnh Quảng Ninh:

            Tổng nhu cầu nhân lực có kỹ năng nghề trực tiếp sản xuất, dịch vụ từ năm 2009- 2010 của tỉnh Quảng Ninh sẽ trên 50.000 người (chưa kể số lao động dân doanh qua truyền nghề làm việc ở 1 số lĩnh vực tự học nghề), gồm 24.000 lao động ở các dự án lớn đang được triển khai trên địa bàn tỉnh đã được UBND tỉnh phê duyệt và 27.000 lao động ở các lĩnh vực khác của các địa phương trên địa bàn tỉnh, trong đó gồm:

            - 08 dự án nhà máy nhiệt điện cần khoảng 2.500 lao động

            - 03 dự án sản xuất xi măng công suất trên 2 triệu tấn/năm cần khoảng 700 lao động.

            - Các dự án đóng tầu của Tập đoàn Công nghiệp Tầu thuỷ Vinasin trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh sử dụng trên 7.000 lao động, trong đó nhân lực có kỹ năng nghề trực tiếp sản xuất, dịch vụ cần khoảng 5.500 lao động.

            - Các dự án Cơ khí cần khoảng 700 người

            - Nhu cầu nhân lực kỹ thuật qua đào tạo nghề của ngành than giai đoạn 2009- 2010 khoảng trên 10.000 lao động

            - Đối với sử dụng nhân lực qua đào tạo nghề ở các lĩnh vực khác của các địa phương trên địa bàn tỉnh khoảng 27.000 lao động.

            - Giai đoạn 2010- 2015 chưa tính toán cụ thể các chương trình, dự án của các ngành, song theo dự báo quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Ninh thì số lao động qua đào tạo nghề khoảng 140.000- 150.000 người, trong đó trình độ cao đẳng nghề và trung cấp nghề khoảng 50%.

 

II. THÔNG TIN VỀ MỘT SỐ TRƯỜNG ĐH, CĐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH

1.      TRƯỜNG CAO ĐẲNG NÔNG LÂM ĐÔNG BẮC

 

            Địa chỉ: Xã Minh Thành, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh

            Điện thoại phòng Đào tạo: 033 3873393; 033 3686 800 hoặc 0912 558857

            Website: http:// www.afcdongbac.edu.vn,    

            Email: afcdongbac@gmail.com.vn; thanhlamthln@yahoo.com

 

            - Tổng số cán bộ công nhân viên: 147 cán bộ giáo viên (giáo viên 81; thạc sỹ 35 chiêm 30,8%)

            - Đào tạo cao đẳng 9 ngành; chỉ tiêu tuyển sinh 400

            - Đào tạo trung cấp chuyên nghiệp 08 ngành (chưa kể hệ THCS); chỉ tiêu 500

            - Đào tạo liên thông Trung cấp lên cao đẳng 06 ngành (Kế toán, Lâm nghiệp, Khuyến nông lâm, Quản lý đất đai, Chăn nuôi thú y, Trồng trọt); chỉ tiêu 250

            - Đào tạo cao đẳng nghề 02 nghề (Kế toán DN; Công nghệ thông tin)

            - Đào tạo Trung cấp nghề 07 nghề

            - Đào tạo sơ cấp nghề lĩnh vực nông lâm nghiệp: 500 chỉ tiêu

            - Xu hướng liên thông bậc cao đẳng lên đại học: có thể học tất cả các trường trong toàn quốc có cùng ngành hoặc ngần với ngành dự tuyển hoặc liên thông lên các trường Đại học như Đại học Lâm nghiệp, Đại học Thành Tây Hà Nội, Đại học Thương Mại Hà Nội, Đại học Thái Nguyên (học tại trường CĐ Nông Lâm Đông Bắc).

            - Học phí theo quy định hiện hành:

            +Hệ cao đẳng: 250.000đ/SV/tháng (thu 10 tháng/năm)

            + Trung cấp chuyên nghiệp: 150.000đ/học sinh/tháng (thu 10 tháng/năm)

            + Hệ cao đẳng nghề: 250.000đồng/SV/tháng (thu 10 tháng/năm)

            + Hệ trung cấp nghề: từ 20.000 đến 100.000đ/tháng (thu 10 tháng/năm)

            Mức thu học phí sẽ được bổ sung và điều chỉnh sau khi có văn bản hướng dẫn cụ thể của Chính phủ về việc thu học phí trong năm 2011.

            - Ký túc xá đủ chỗ ở cho HSSV tuyển sinh năm 2011 (ký túc xá khép kín): 70.000đ/tháng/người

            - Thí sinh có thể xem thêm Những điều cần biết về tuyển sinh năm 2011 để biết thêm thông tin.

 

            1. HỆ CAO ĐẲNG – Ký hiệu CDP: Tổng chỉ tiêu: 650;

            * Hệ dài hạn:

Hệ đào tạo

Mã ngành

Tên ngành

Khối thi

Khối

xét tuyển

Ghi chú

Cao Đẳng

C340101

Quản trị kinh doanh

A

A, D

Thời gian đào tạo

3 năm

C340201

Tài chính - Ngân hàng

A

A, D

C340301

Kế toán

A

A, D

C620102

Khuyến nông

A, B

A, B

C620105

Chăn nuôi

A, B

A, B

C620110

Khoa học cây trồng

A, B

A, B

C620116

Phát triển nông thôn

A, B

A, B

C620201

Lâm nghiệp

A, B

A, B

C620211

Quản lý tài nguyên rừng

(Kiểm Lâm)

A, B

A, B

C640201

Dịch vụ thú y

A, B

A, B

C850103

Quản lý đất đai

A, B

A, B

 

- Điểm xét tuyển năm 2010 và 2011 bằng điểm sàn của Bộ Giáo dục và Đào tạo: Khối A: 10 điểm; Khối B: 11 điểm; (Năm 2011 nhà trường được Bộ Giáo dục & ĐT cho phép vận dụng điều 33 xét tuyển điểm chênh lệch giữa các khu vực là 1 điểm).

- Thời gian nộp sơ đăng ký dự thi + lệ phí đăng ký dự thi + Thời gian thi, xét tuyển theo quy định của Bộ GD&ĐT.

- Đối tượng dự thi: Học sinh tốt nghiệp THPT hoặc tương đương.

- Sinh viên tốt nghiệp hệ Cao đẳng nếu đủ điều kiện có thể thi liên thông lên đại học. Thời gian đào tạo 1,5 năm.

- Thí sinh không đủ điều kiện xét tuyển hệ Cao đẳng được xét tuyển học hệ trung cấp chuyên nghiệp hoặc cao đẳng nghề.

            - Vùng tuyển sinh: trong cả nước

2. Hệ liên thông Trung cấp lên Cao đẳng:

- Thời gian đào tạo 1,5 năm.

- Ngành đào tạo: tất cả các ngành của hệ Cao đẳng

- Đối tượng tuyển sinh: Học sinh đã tốt nghiệp Trung cấp chuyên nghiệp, Trung cấp nghề cùng chuyên ngành hoặc gần với chuyên ngành đào tạo

- Thi tuyển thi 3 môn: Toán, Tiếng Anh, Cơ sở ngành.

- Thời gian nhận hồ sơ: Từ tháng 3 đến hết tháng 10/2012

 

II. HỆ TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP (TCCN) – Ký hiệu NN14: Tổng chỉ tiêu: 550

Hệ đào tạo

Mã ngành

Tên ngành

Khối thi

Khối

xét tuyển

Ghi chú

Trung cấp

Chuyên nghiệp

42620101

Trồng trọt & Bảo vệ thực vật

 

 

Xét tuyển

42620106

Chăn nuôi – Thú y

 

 

42620110

Khuyến nông lâm

 

 

42620201

Lâm sinh

 

 

42620204

Quản lý tài nguyên rừng

(Kiểm Lâm)

 

 

42340107

Kinh doanh thương mại

và dịch vụ

 

 

42340303

Kế toán doanh nghiệp

 

 

42850104

Quản lý đất đai

 

 

424802

Công nghệ thông tin

 

 

 

Hệ văn hóa

(tốt nghiệp THCS)

 

 

           

- Đối tượng tuyển sinh: Học sinh tốt nghiệp THPT và tương đương, THCS và tương đương; những học sinh đã dự thi nhưng chưa đỗ tốt nghiệp THPT hoặc bổ túc THPT .  

- Hình thức tuyển sinh: Xét tuyển dựa trên học bạ THPT.

            - Tuyển sinh tất cả các tháng trong năm.

            - Vùng tuyển sinh: trong cả nước

III. DẠY NGHỀ: Tổng chỉ tiêu 600

TT

Các nghề đào tạo

Bậc đào tạo

Thời gian đào tạo

PTTH

THCS

1

Kế toán doanh nghiệp

Cao đẳng

3 năm

 

2

Công nghệ thông tin

Cao đẳng

3 năm

 

3

Kế toán doanh nghiệp

Trung cấp

2 năm

3 năm

4

Công nghệ thông tin

Trung cấp

2 năm

3 năm

5

Gia công và thiết kế sản phẩm mộc

Trung cấp

18 tháng

30 tháng

6

Quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trung cấp

1 năm

2 năm

7

Lâm sinh

Trung cấp

1 năm

2 năm

8

Thú y

Trung cấp

1 năm

2 năm

9

Chăn nuôi gia súc gia cầm

Trung cấp

1 năm

2 năm

           

- Đối tượng tuyển sinh: Học sinh tốt nghiệp THPT, THCS và tương đương.

            - Hình thức tuyển sinh: Xét tuyển dựa trên học bạ THPT, THCS.

            - Tuyển sinh vào tất cả các tháng trong năm; Hồ sơ tuyển sinh theo mẫu quy định của Tổng cục dạy nghề.

            - Vùng tuyển sinh: Trong cả nước.

 

Ghi chú: 

- Nhà trường có đủ chỗ ở trong KTX cho HSSV

- Học phí và các chế độ chính sách đối với HSSV theo quy định hiện hành

- Thí sinh không đủ điểm vào học CĐ nếu có nguyện vọng được vào học trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng nghề, trung cấp nghề

 

 

TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ QUẢNG NINH

Website: cdytquangninh.edu.vn

 

Địa điểm: - Cơ sở 1: Phường Hồng Hải, Thành phố Hạ Long

                   - Cơ sở 2: Phường Bạch Đằng, Thành phố Hạ Long

            Mục tiêu của nhà trường

            Trở thành một cơ sở đào tạo nguồn nhân lực Y tế có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân trong tỉnh và khu vực.

Nguồn nhân lực

            Tổng số cán bộ, giảng viên cơ hữu: 87 người; trên 100 giáo viên thỉnh giảng là các giáo sư, tiến sỹ, thầy thuốc có chuyên môn giỏi đang làm việc tại các trường Đại học Y - Dược, các Bệnh viện trong tỉnh.

            Cơ sở vật chất, trang thiết bị

            + Hệ thống giảng đường được lắp đặt đầy đủ các phương tiện hỗ trợ giảng dạy;

            + 02 phòng thực hành tiền lâm sàng với đầy đủ trang thiết bị phục vụ cho HSSV thực tập trước khi đi thực tập tại bệnh viện; 08 phòng thực hành khác với các dụng cụ và mô hình hiện đại;

            + 01 phòng học đa chức năng, 01 phòng Lab dành cho dạy và học ngoại ngữ, 01 phòng thực hành tin học;

            + 06 Bệnh viện thực hành (BV Đa khoa tỉnh Quảng Ninh, BV Đa khoa khu vực Bãi Cháy, BV Đa khoa khu vực Cẩm Phả, BV Đa khoa Thị xã Cẩm Phả, BV Việt Nam - Thụy Điển, Bệnh viện Y - Dược cổ truyền Quảng Ninh) và nhiều cơ sở Y tế trong và ngoài tỉnh.

            + 01 thư viện điện tử với 10 máy tính nối mạng Internet và trên 700 đầu sách, hoạt động dưới dạng thư viện mở.

            + Ký túc xá đáp ứng nhu cầu ở nội trú cho trên 200 học sinh - sinh viên.

           Vị trí, cơ hội làm việc của người học sau khi tốt nghiệp

Chuyên ngành Y: làm việc tại các bệnh viện, TT Y tế, phòng Y tế, trạm Y tế, cơ sở khám chữa bệnh nhà nước và tư nhân, ...

Chuyên ngành Dược: làm việc tại các cơ sở Y tế, đơn vị Dược sự nghiệp, công ty sản xuất kinh doanh thuốc, hiệu thuốc, nhà thuốc, ...

Trường hiện đã và đang liên kết với một số đối tác nước ngoài để giới thiệu việc làm cho HS-SV sau khi tốt nghiệp.

Những HS-SV có thành tích học tập, rèn luyện tốt được các Bệnh viện trong khu vực đăng ký tuyển dụng ngay sau khi tốt nghiệp.

            Ngành nghề đạo tạo và chỉ tiêu tuyển sinh năm 2012

Hệ cao đẳng: 300 chỉ tiêu

+ Cao đẳng Điều dưỡng 

Hệ trung cấp: 500 chỉ tiêu

+ Y sỹ Đa khoa             

+ Y sỹ Đông Y                  

+ Trung cấp Điều dưỡng

+ Trung cấp Hộ sinh       

+ Dược sỹ trung cấp

 

300

300 50   50     40 60   

 

 

  

 

 

 

Các nội dung khác:
 
 Đăng nhập
Tên đăng nhập
Mật khẩu
 
  Quên mật khẩu
    Đăng ký
Ứng viên
Nhà tuyển dụng
Học nghề